Tags
cac-benh-thuong-gap
(25)
mon-an-chua-benh
(17)
an-ngon
(7)
Bài Thuốc Hay
(6)
Danh-Y
(6)
co-tuong
(5)
giai-tri
(5)
cam-nang-suc-khoe
(4)
San-pham
(3)
hướng-dẫn
(3)
Cay-thuoc-quy
(2)
khi-cong
(2)
benh-man-tinh
(1)
gioi-thieu-mua-hang
(1)
y-kien
(1)
Xin Chào
Blogroll
Được tạo bởi Blogger.
About Me
- alexsanderkhanh
Followers
Tổng số lượt xem trang
Online
Lưu trữ Blog
Translate
❤so1suckhoe.com - Thông Tin,Sản Phẩm Chăm Sóc Sức Khỏe
❤so1suckhoe.com - Thông Tin,Sản Phẩm Chăm Sóc Sức Khỏe
Like Trang để nhận , thông tin sản phâm chăm sóc sức khỏe . Thời buổi Lý Thông Thì Nhiều Thạch Sanh chết hết rồi nên chúng ta phải tự trang bị kiến thức để phòng trừ bệnh tật. Thân ái chào đoàn kết và xây dựng.
Kem đánh răng P/S : wed đang xây dựng nên có nhiều thiếu sót , mong mọi người cho ý kiến ạ .
Like Trang để nhận , thông tin sản phâm chăm sóc sức khỏe . Thời buổi Lý Thông Thì Nhiều Thạch Sanh chết hết rồi nên chúng ta phải tự trang bị kiến thức để phòng trừ bệnh tật. Thân ái chào đoàn kết và xây dựng.
Kem đánh răng P/S : wed đang xây dựng nên có nhiều thiếu sót , mong mọi người cho ý kiến ạ .
Rượi Tỏi
RƯỢU TỎI
“Thần dược” nghìn năm tuổi chữa bách bệnh nhà nào cũng phải có để phòng thân
Trong tỏi có thành phần iốt và tinh dầu, song thành phần chủ yếu là Allicin có công dụng kháng khuẩn, kháng virus và kháng ký sinh trùng. Tỏi ngâm rượu trở thành 1 vị thuốc rất tốt.
1. Lịch sử sử dụng tỏi làm thuốc:
Tỏi từ xa xưa đã được coi là một vị thuốc từ rất lâu đời. Ngay từ thời cổ đại, đã có những bài thuốc được bào chế từ tỏi. Trong ngôi mộ cổ xưa ở Ai Cập, người ta đã tìm thấy dấu vết của những đơn thuốc làm từ tỏi.
Ngay đến thời hiện đại, người Ai Cập vẫn giữ thói quen sử dụng tỏi làm thuốc.
Theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vào những năm 70 của thế kỷ 20, những người của tổ chức này nhận ra rằng Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khỏe của người dân lại rất tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ cao.
Qua nghiên cứu, các chuyên gia của WHO đã biết được rằng trong nhà của người Ai Cập luôn có những chai rượu tỏi để cả gia đình sử dụng. Thói quen này đã trở thành một tập quán kéo dài trong nhiều thế kỷ.
Không chỉ ở Ai Cập, khắp nơi trên thế giới đều coi tỏi như là một vị thuốc quý. Tại Nga thế kỷ 19, tỏi thậm chí còn được nhấn mạnh với vai trò thảo dược hơn là vai trò gia vị phục vụ bữa ăn.
Y học phương Đông cổ truyền cũng rất coi trọng tỏi. Ngay từ năm 2600 trước Công Nguyên người Trung Quốc đã sử dụng tỏi để làm thuốc. Cho đến tận bây giờ, trong nhiều đơn thuốc chữa bệnh của người Trung Quốc và Việt Nam vẫn có sử dụng tỏi.
2. Dược tính, công dụng:
“Thần dược” nghìn năm tuổi chữa bách bệnh nhà nào cũng phải có để phòng thân
Trong tỏi có thành phần iốt và tinh dầu, song thành phần chủ yếu là Allicin có công dụng kháng khuẩn, kháng virus và kháng ký sinh trùng. Tỏi ngâm rượu trở thành 1 vị thuốc rất tốt.
1. Lịch sử sử dụng tỏi làm thuốc:
Tỏi từ xa xưa đã được coi là một vị thuốc từ rất lâu đời. Ngay từ thời cổ đại, đã có những bài thuốc được bào chế từ tỏi. Trong ngôi mộ cổ xưa ở Ai Cập, người ta đã tìm thấy dấu vết của những đơn thuốc làm từ tỏi.
Ngay đến thời hiện đại, người Ai Cập vẫn giữ thói quen sử dụng tỏi làm thuốc.
Theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vào những năm 70 của thế kỷ 20, những người của tổ chức này nhận ra rằng Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khỏe của người dân lại rất tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ cao.
Qua nghiên cứu, các chuyên gia của WHO đã biết được rằng trong nhà của người Ai Cập luôn có những chai rượu tỏi để cả gia đình sử dụng. Thói quen này đã trở thành một tập quán kéo dài trong nhiều thế kỷ.
Không chỉ ở Ai Cập, khắp nơi trên thế giới đều coi tỏi như là một vị thuốc quý. Tại Nga thế kỷ 19, tỏi thậm chí còn được nhấn mạnh với vai trò thảo dược hơn là vai trò gia vị phục vụ bữa ăn.
Y học phương Đông cổ truyền cũng rất coi trọng tỏi. Ngay từ năm 2600 trước Công Nguyên người Trung Quốc đã sử dụng tỏi để làm thuốc. Cho đến tận bây giờ, trong nhiều đơn thuốc chữa bệnh của người Trung Quốc và Việt Nam vẫn có sử dụng tỏi.
2. Dược tính, công dụng:
Tỏi tên khoa học Allium sativum L. thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).
Theo GS Đỗ Tất Lợi, trong Đông y, tỏi được coi có vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa băng đới, trùng tích, huyết lỵ. Tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đờm, đầy chướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả lỵ…
Theo phân tích của y học hiện đại, trong củ tỏi có chứa 0,10 – 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S).
Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) – chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin.
Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng… đặc biệt là selen.
Đặc biệt, khi được ngâm rượu, rượu tỏi trở thành 1 vị thuốc dễ sử dụng và có rất nhiều công dụng.
Theo dược sĩ Võ Hùng Mạnh, Trưởng Khoa Dược Bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bình Định, trong tỏi có thành phần iốt và tinh dầu, song thành phần chủ yếu là Allicin có công dụng kháng khuẩn, kháng virus và kháng ký sinh trùng.
Theo Đông y, tỏi ngâm rượu có thể tăng cường sức đề kháng cơ thể, chữa được nhiều bệnh.
Tổ chức Y tế thế giới đã nghiên cứu và công bố những tác dụng của rượu tỏi trong điều trị các loại bệnh như:
– Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp…).
– Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản…).
– Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).
– Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày – tá tràng).
Năm 1983, các nhà y học Nhật Bản bổ ung thêm 2 nhóm bệnh và rượu tỏi có thể điều trị đó là bệnh trĩ và bệnh đái tháo đường. Theo nhóm nghiên cứu này, rượu tỏi là một loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.
3. Cách bào chế rượu tỏi để chữa bệnh:
Theo hướng dẫn của WHO, rượu tỏi cần được ngâm và sử dụng đúng liều lượng vì loại thuốc này được sử dụng lâu dài, nếu dùng quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe.
40g tỏi khô bóc vỏ, thái nhỏ cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 – 45 độ, thỉnh thoảng lắc chai rượu cho đến khi rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng. Đến ngày thứ 10 thì dùng được.
Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) và trước lúc ăn sáng và trước khi đi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết nên cứ 10 ngày lại ngâm tiếp để có rượu dùng liên tục.
Với lượng rượu nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không được rượu vẫn dùng được.
Tuy nhiên, theo dược sĩ Võ Hùng Mạnh, Trưởng Khoa Dược Bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bình Định, tỏi là một vị thuốc có tính nóng nên cần phải lưu ý khi dùng.
Một số trường hợp dùng rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp đã cao trở lại. Do đó, dùng rượu tỏi lâu dài cần phải linh động gia giảm tùy theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của mỗi người.
Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ý dùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệu quả điều trị.
Ngoài ra, dùng rượu tỏi điều trị cao huyết áp và phòng ngừa bệnh tim mạch cần phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hòa trong các loại thịt động vật và tăng cường vận động.
Theo GS Đỗ Tất Lợi, trong Đông y, tỏi được coi có vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa băng đới, trùng tích, huyết lỵ. Tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đờm, đầy chướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả lỵ…
Theo phân tích của y học hiện đại, trong củ tỏi có chứa 0,10 – 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S).
Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) – chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin.
Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng… đặc biệt là selen.
Đặc biệt, khi được ngâm rượu, rượu tỏi trở thành 1 vị thuốc dễ sử dụng và có rất nhiều công dụng.
Theo dược sĩ Võ Hùng Mạnh, Trưởng Khoa Dược Bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bình Định, trong tỏi có thành phần iốt và tinh dầu, song thành phần chủ yếu là Allicin có công dụng kháng khuẩn, kháng virus và kháng ký sinh trùng.
Theo Đông y, tỏi ngâm rượu có thể tăng cường sức đề kháng cơ thể, chữa được nhiều bệnh.
Tổ chức Y tế thế giới đã nghiên cứu và công bố những tác dụng của rượu tỏi trong điều trị các loại bệnh như:
– Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp…).
– Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản…).
– Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).
– Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày – tá tràng).
Năm 1983, các nhà y học Nhật Bản bổ ung thêm 2 nhóm bệnh và rượu tỏi có thể điều trị đó là bệnh trĩ và bệnh đái tháo đường. Theo nhóm nghiên cứu này, rượu tỏi là một loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.
3. Cách bào chế rượu tỏi để chữa bệnh:
Theo hướng dẫn của WHO, rượu tỏi cần được ngâm và sử dụng đúng liều lượng vì loại thuốc này được sử dụng lâu dài, nếu dùng quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe.
40g tỏi khô bóc vỏ, thái nhỏ cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 – 45 độ, thỉnh thoảng lắc chai rượu cho đến khi rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng. Đến ngày thứ 10 thì dùng được.
Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) và trước lúc ăn sáng và trước khi đi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết nên cứ 10 ngày lại ngâm tiếp để có rượu dùng liên tục.
Với lượng rượu nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không được rượu vẫn dùng được.
Tuy nhiên, theo dược sĩ Võ Hùng Mạnh, Trưởng Khoa Dược Bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bình Định, tỏi là một vị thuốc có tính nóng nên cần phải lưu ý khi dùng.
Một số trường hợp dùng rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp đã cao trở lại. Do đó, dùng rượu tỏi lâu dài cần phải linh động gia giảm tùy theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của mỗi người.
Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ý dùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệu quả điều trị.
Ngoài ra, dùng rượu tỏi điều trị cao huyết áp và phòng ngừa bệnh tim mạch cần phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hòa trong các loại thịt động vật và tăng cường vận động.
Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người. Người chuẩn bị phẫu thuật không nên dùng tỏi, vì tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống đông máu được dùng trong giải phẫu.
Tag :
Bài Thuốc Hay,
Chả Giò
Nguyên liệu
1 kg thịt lợn nạc (hoặc 1/2 thịt và 1/2 tôm hoặc cua)
1 kg thịt lợn nạc (hoặc 1/2 thịt và 1/2 tôm hoặc cua)
1 củ hành tây, 1 củ khoai tây lớn (khoảng 250 g)
1 củ cà rốt (khoảng 130 g)
10ml RƯỢU THƠM KIM ANH
10ml RƯỢU THƠM KIM ANH
2 cái trứng gà,
50g miến
50g miến
25 g mọc nhĩ/ nấm đông cô/ nấm hương
1/2 thìa muối/ bột canh
1/4 thìa hạt tiêu và bánh đa nem
Cách làm
Sơ chế nguyên liệu làm chả giò
Sơ chế nguyên liệu làm chả giò
Nguyên liệu chính của món chả giò hay còn gọi là nem rán đó là thịt lợn xay, bạn nên xay nhỏ nhưng không nhuyễn quá nếu không món chả giò sẽ bị nát. Thái nhỏ các loại rau củ quả như cà rốt, hành tây, khoai tây rồi cho vào trộn cùng với thịt lợn.
Ngâm miến trong nước ấm, rồi dùng kéo cắt dài khoảng 1cm. Mộc nhĩ ngâm nước nóng cho nở to ra rồi rửa sạch. Bỏ thịt băm, khoai tây, cà rốt, hành tây, mộc nhĩ, miến, chút hành lá vào một cái tô, cho muối, mỳ chính, hạt tiêu RƯỢU THƠM KIM ANH vào trộn đều. Tùy theo lượng nguyên liệu làm chả giò mà bạn cho trứng hợp lý. Không nên cho quá nhiều trứng nếu không món chả giò sẽ kém ngon vì bị nát. Để làm món chả giò ngon, nên ướp nguyên liệu trong khoảng 15-20 phút.
Cách cuốn chả giò
Muốn món chả giò ngon, khi cuốn chả bạn phải cuốn chặt tay. Đầu tiên bạn đặt một chiếc khăn sạch nên bàn phẳng hoặc lên thớt sạch. Nhúng bánh tráng để cuốn chả giò vào nước ấm thật nhanh tay rồi rút bánh ra khỏi nước, vuốt sạch nước rồi đặt bánh lên trên tấm khăn ướt. Ở ngoài miền Bắc, chúng ta có thể dùng chút dấm ăn vuốt nhẹ lên bánh tráng gói chả giò để khi chiên món chả giò sẽ giòn, ngon hơn.
Lấy thìa xúc nhân làm chả giò đặt lên bánh tráng. Ấn nhẹ cho nhân nắm gọn trong lá bánh tráng, cuộn 1 vòng rồi gập hai bên mép bánh tráng vào, cuộn tiếp cho đến khi hết lá bánh. Lưu ý, để chiên chả giò đẹp hơn, nên cuốn chặt tay nhưng không quá mạnh sẽ làm vỡ nhân chả giò. Xếp những chiếc chả giò đã cuốn ra đĩa để chuẩn bị chiên.
Chiên chả giò
Chiên chả giò
Cho dầu vào chảo để chiên chả, đợi dầu nóng già sau đó cho chả giò vào, đặt mỗi cuốn cách rời nhau để khỏi dính làm rách vỏ, nhân sẽ bị lòi ra mất ngon. Chiên một mặt cho chả giò vàng rồi trở sang mặt khác. Khi chiên chả giò bạn nên để lửa nhỏ vừa, đừng to quá sẽ làm cháy lớp vỏ bánh tráng bên ngoài mà bên trong vẫn chưa chín. Muốn chả giò chiên ngon bạn nên lật chả giò thường xuyên, khi lớp dưới vàng thì lật luôn để 2 lớp chín đều nhau.
ach lam cha gio không quá khó, muốn chiên chả giò ngon nên chiên nhỏ lửa, và lật đều tay
Cách pha nước chấm ngon ăn cùng chả giò
ach lam cha gio không quá khó, muốn chiên chả giò ngon nên chiên nhỏ lửa, và lật đều tay
Cách pha nước chấm ngon ăn cùng chả giò
Cũng giống như người miền Bắc, người miền Nam ăn chả giò với nước chấm chua ngọt. Món chả giò thơm ngon phụ thuộc nhiều vào nước chấm. Nước chấm chua ngọt ăn kèm với chả giò chiên sẽ ngon miệng hơn rất nhiều. Để pha nước chấm chấm chả giò ngon bạn cần chuẩn bị đường, nước đun sôi để nguội, nước mắm ngon, ớt ta, chanh, tỏi băm nhỏ.
Cách pha nước chấm chấm chả giò không quá khó, bạn cho nước và đường vào một nồi nhỏ, bắt lên bếp, để lửa vừa. Khuấy cho đường tan. Đun cho đến khi nồi sôi lên. Nhắc nôì khỏi bếp, để nguội. Cho nước chanh vắt, nước mắm, ớt, tỏi băm nhỏ vào, trộn đều. Nêm lại vừa ăn.
Cách pha nước chấm chấm chả giò không quá khó, bạn cho nước và đường vào một nồi nhỏ, bắt lên bếp, để lửa vừa. Khuấy cho đường tan. Đun cho đến khi nồi sôi lên. Nhắc nôì khỏi bếp, để nguội. Cho nước chanh vắt, nước mắm, ớt, tỏi băm nhỏ vào, trộn đều. Nêm lại vừa ăn.
Tag :
an-ngon,
CƠM CUỘN RONG BIỂN
CƠM CUỘN RONG BIỂN
Nguyên liệu
Để học cách làm cơm cuộn rong biển hay chính là món kimbap, phần nguyên liệu bạn chuẩn bị kĩ như sau nhé!
Để học cách làm cơm cuộn rong biển hay chính là món kimbap, phần nguyên liệu bạn chuẩn bị kĩ như sau nhé!
Gạo tám thơm: 200 gam
Lá rong biển: 1 gói khoảng 4 lá
Xúc xích: 3 cái
Thanh thịt tôm: 5 cái.
Cà rốt: 2 củ
Dưa chuột: 2 quả
Củ cải vàng muối Hàn Quốc
Trứng gà : 3 quả
Dụng cụ để cuốn như: Mành tre
Dầu vừng
Muối
Sốt mayonnaise
Nước mắm
1
Công đoạn đầu tiên của cách làm cơm cuộn rong biển Hàn Quốc chính là bạn cần nấu cơm trước đã. Để món cơm cuộn rong biển được dễ cuốn và thơm ngon, loại gạo dùng nấu cơm chính là gạo tám thơm. Gạo tám thơm vừa mềm vừa dẻo, không cần đổ nhiều nước mà cơm vẫn có độ dính tuyệt vời để làm món cơm cuộn.
Công đoạn đầu tiên của cách làm cơm cuộn rong biển Hàn Quốc chính là bạn cần nấu cơm trước đã. Để món cơm cuộn rong biển được dễ cuốn và thơm ngon, loại gạo dùng nấu cơm chính là gạo tám thơm. Gạo tám thơm vừa mềm vừa dẻo, không cần đổ nhiều nước mà cơm vẫn có độ dính tuyệt vời để làm món cơm cuộn.
Gạo tám thơm bạn đem vo sạch, rồi nấu cơm bằng nồi cơm điện. Khi cơm nguội, bạn cho 1 muỗng cà phê muối và dầu vừng để cơm có vị thơm ngon khi được cuốn chung với các nguyên liệu khác nhé!
2
Rau củ cho món cơm cuộn rong biển gồm có cà rốt và dưa chuột. Hai nguyên liệu này bạn cần rửa sạch, gọt vỏ, riêng dưa chuột cần bỏ phần ruột dưa đi để cơm không bị ướt. Sau đó bạn xắt dưa chuột và cà rốt thành những thanh nhỏ dài, dày khoảng 1.5cm. Lưu ý chiều dài của các thanh cà rốt và dưa chuột cần ngắn hơn chiều ngang của lá rong biển khi cuốn cơm nhé!
Cà rốt cần chần sơ qua nước sôi Sau đó vớt ra cho vào bát nước lạnh để giữ độ giòn.
3
Đập trứng vào bát rồi nêm nếm thêm chút muối vào trứng và đánh đều. Bạn cho trứng vào chảo để chiên, dùng chảo nhỏ để chiên trứng thì trứng sẽ được dày miếng hơn khi cuộn cơm đấy nhé!
4
củ cải vàng, Xúc xích và thanh thịt tôm thành những thanh dài và nhỏ như cà rốt và dưa chuột. Để riêng.
5
Để cuốn cơm cuộn rong biển, bạn cần sử dụng các dụng cụ hỗ trợ cuốn cơm được nhanh. Hiện nay, nhiều gia đình rất tin dùng dụng cụ mành tre để cuộn cơm vì mành tre khá dễ sử dụng, lại cuộn cơm được chặt và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Rau củ cho món cơm cuộn rong biển gồm có cà rốt và dưa chuột. Hai nguyên liệu này bạn cần rửa sạch, gọt vỏ, riêng dưa chuột cần bỏ phần ruột dưa đi để cơm không bị ướt. Sau đó bạn xắt dưa chuột và cà rốt thành những thanh nhỏ dài, dày khoảng 1.5cm. Lưu ý chiều dài của các thanh cà rốt và dưa chuột cần ngắn hơn chiều ngang của lá rong biển khi cuốn cơm nhé!
Cà rốt cần chần sơ qua nước sôi Sau đó vớt ra cho vào bát nước lạnh để giữ độ giòn.
3
Đập trứng vào bát rồi nêm nếm thêm chút muối vào trứng và đánh đều. Bạn cho trứng vào chảo để chiên, dùng chảo nhỏ để chiên trứng thì trứng sẽ được dày miếng hơn khi cuộn cơm đấy nhé!
4
củ cải vàng, Xúc xích và thanh thịt tôm thành những thanh dài và nhỏ như cà rốt và dưa chuột. Để riêng.
5
Để cuốn cơm cuộn rong biển, bạn cần sử dụng các dụng cụ hỗ trợ cuốn cơm được nhanh. Hiện nay, nhiều gia đình rất tin dùng dụng cụ mành tre để cuộn cơm vì mành tre khá dễ sử dụng, lại cuộn cơm được chặt và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Đầu tiên, bạn trải lá rong biển ra trước rồi dàn đều một lớp cơm mỏng lên trên. Bạn nhớ phải rải đều phần cơm lên toàn bộ mặt lá rong biển, phần đầu và phần cuối của lá rong biển dàn ít cơm để khi cuốn, cơm không bị bung ra ngoài nhé!
6
Sau đó, bạn đặt ngay ngắn tất cả các nguyên liệu đã được sơ chế ban đầu để cuốn lên phần cơm cuộn, bạn nên trải ngang nguyên liệu để khi cuốn được dễ hơn. Bạn không nên cho quá ít hoặc cho quá nhiều nguyên liệu vào để cuốn cơm vì như thế, cơm cuốn khi cuộn sẽ khó, dễ rách lại khá ngán khi thưởng thức. Chỉ cần cho vừa đủ nguyên liệu sao cho cơm cuốn có hương vị hài hòa là được.
7
Bạn cuộn tròn lá rong biển bằng mành tre sao cho từng phần cuốn được thật chặt tay. Cuốn chặt tay sẽ khiến lúc xắt cơm, cơm cuộn không bị nứt vỡ và trào ra ngoài.
8
Cuối cùng, bạn chỉ cần dùng dao mỏng, sắc để xắt cơm cuộn thành các miếng cơm khoanh tròn có độ dày vừa phải, thưởng thức cùng với sốt mayonnaise thì ngon tuyệt vời.
6
Sau đó, bạn đặt ngay ngắn tất cả các nguyên liệu đã được sơ chế ban đầu để cuốn lên phần cơm cuộn, bạn nên trải ngang nguyên liệu để khi cuốn được dễ hơn. Bạn không nên cho quá ít hoặc cho quá nhiều nguyên liệu vào để cuốn cơm vì như thế, cơm cuốn khi cuộn sẽ khó, dễ rách lại khá ngán khi thưởng thức. Chỉ cần cho vừa đủ nguyên liệu sao cho cơm cuốn có hương vị hài hòa là được.
7
Bạn cuộn tròn lá rong biển bằng mành tre sao cho từng phần cuốn được thật chặt tay. Cuốn chặt tay sẽ khiến lúc xắt cơm, cơm cuộn không bị nứt vỡ và trào ra ngoài.
8
Cuối cùng, bạn chỉ cần dùng dao mỏng, sắc để xắt cơm cuộn thành các miếng cơm khoanh tròn có độ dày vừa phải, thưởng thức cùng với sốt mayonnaise thì ngon tuyệt vời.
Tag :
an-ngon,
Thức uống giải độc Gan Thận
Loại thức uống giúp giải độc gan, thận tốt nhất nhưng lại cực kỳ dễ pha chế
Tinh dầu sả rất tốt nhưng lại khó làm. Vì vậy, trang Boldsky giới thiệu một thức uống từ sả cũng có tác dụng không thua kém gì tinh dầu.
Là loại cỏ sống lâu năm, mọc thành bụi cao 0,8 đến 1m, cây sả có lá dài giống lá lúa, hai mặt lá giáp nhám, trong khi đó thân rễ trắng hoặc hơi tím.
Tinh dầu sả rất tốt nhưng lại khó làm. Vì vậy, trang Boldsky giới thiệu một thức uống từ sả cũng có tác dụng không thua kém gì tinh dầu.
Là loại cỏ sống lâu năm, mọc thành bụi cao 0,8 đến 1m, cây sả có lá dài giống lá lúa, hai mặt lá giáp nhám, trong khi đó thân rễ trắng hoặc hơi tím.
Sả được trồng cũng như sử dụng rộng rãi như là một gia vị thường thấy trong bữa ăn hằng ngày tại các nước châu Á như Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thái Lan…
Nó có hương vị như chanh và có thể sấy khô và tán thành bột hay sử dụng ở dạng tươi sống.
Tuy nhiên, cây sả không chỉ là gia vị trong chế biến thức ăn mà còn là một vị thuốc được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền. Công dụng của cây sả khiến nhiều người phải bất ngờ.
Chúng ta thường nghe nhiều đến tinh dầu sả, vốn có thể dùng để tạo hương, trị nấm móng, khó tiêu, dưỡng da. Gần đây, các nhà nghiên cứu còn khám phá tinh dầu sả có tác dụng giảm đau như aspirin.
Rất tốt, nhưng tinh dầu sả lại rất khó làm. Vì vậy, trang Boldsky đã giới thiệu một cách chế biến từ sả rất có lợi cho sức khỏe. Đó chính là trà sả, thức uống nổi tiếng ở nhiều quốc gia ở Châu Á.
Thực tế, người Ấn Độ cổ đại sử dụng trà sả như là một bài thuốc chữa một số căn bệnh đơn giản.
Nó có hương vị như chanh và có thể sấy khô và tán thành bột hay sử dụng ở dạng tươi sống.
Tuy nhiên, cây sả không chỉ là gia vị trong chế biến thức ăn mà còn là một vị thuốc được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền. Công dụng của cây sả khiến nhiều người phải bất ngờ.
Chúng ta thường nghe nhiều đến tinh dầu sả, vốn có thể dùng để tạo hương, trị nấm móng, khó tiêu, dưỡng da. Gần đây, các nhà nghiên cứu còn khám phá tinh dầu sả có tác dụng giảm đau như aspirin.
Rất tốt, nhưng tinh dầu sả lại rất khó làm. Vì vậy, trang Boldsky đã giới thiệu một cách chế biến từ sả rất có lợi cho sức khỏe. Đó chính là trà sả, thức uống nổi tiếng ở nhiều quốc gia ở Châu Á.
Thực tế, người Ấn Độ cổ đại sử dụng trà sả như là một bài thuốc chữa một số căn bệnh đơn giản.
Nguyên liệu: Vài cây sả, một quả chanh, một thìa mật ong và một túi trà.
Cách chế biến: – Đầu tiên, bỏ phần lá, chỉ lấy phần thân (củ). Rửa sạch và đập dập rồi cho vào một cốc nước nóng. 3 phút sau, thêm một túi trà và một thìa mật ong vào cốc.
– Trước khi uống, bạn vớt sả, túi trà ra và có thể thêm lát chanh để tăng thêm công dụng chữa bệnh.
Giảm đau đầu: Một số nghiên cứu cho thấy sả có thể giảm triệu chứng đau đầu. Những người thường xuyên bị đau nửa đầu nên uống trà sả thường xuyên.
Kiểm soát cholesterol: Trà sả có thể hạn chế sự hấp thu cholesterol trong ruột. Nó cũng ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám trong động mạch. Uống trà sả thường xuyên có thể kiểm soát nồng độ cholesterol.
Đẹp da: Trà sả có thể làm đẹp da. Nó giàu vitamin C. Nó có thể thải độc trong cơ thể.
Cách chế biến: – Đầu tiên, bỏ phần lá, chỉ lấy phần thân (củ). Rửa sạch và đập dập rồi cho vào một cốc nước nóng. 3 phút sau, thêm một túi trà và một thìa mật ong vào cốc.
– Trước khi uống, bạn vớt sả, túi trà ra và có thể thêm lát chanh để tăng thêm công dụng chữa bệnh.
Giảm đau đầu: Một số nghiên cứu cho thấy sả có thể giảm triệu chứng đau đầu. Những người thường xuyên bị đau nửa đầu nên uống trà sả thường xuyên.
Kiểm soát cholesterol: Trà sả có thể hạn chế sự hấp thu cholesterol trong ruột. Nó cũng ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám trong động mạch. Uống trà sả thường xuyên có thể kiểm soát nồng độ cholesterol.
Đẹp da: Trà sả có thể làm đẹp da. Nó giàu vitamin C. Nó có thể thải độc trong cơ thể.
Giảm tối thiệu cơn đau khớp: Các đặc tính chống viêm của sả có thể giúp làm giảm các cơn đau viêm khớp. Nếu bạn đang bị bệnh thấp khớp, bệnh gút hoặc đau khớp, hãy thường xuyên uống trà sả để cảm nhận sự khác biệt.
Giúp ngủ ngon: Trà sả giúp bạn dễ ngủ và ngủ ngon hơn bởi nó làm “dịu” cơ thể.
Tốt cho tiêu hóa: Trà sả có thể điều trị chứng đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy và chuột rút. Nó cũng có thể giết các kí sinh trùng trong đường ruột.
Giúp ngủ ngon: Trà sả giúp bạn dễ ngủ và ngủ ngon hơn bởi nó làm “dịu” cơ thể.
Tốt cho tiêu hóa: Trà sả có thể điều trị chứng đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy và chuột rút. Nó cũng có thể giết các kí sinh trùng trong đường ruột.
Tag :
mon-an-chua-benh,
cà Tím
Theo Đông y cà tím đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Cà tím còn có tên cà dái dê, cà tím dài, cà dê. Không lẫn cà pháo cà dừa, cà bát vỏ tím. Tên Hán gọi cà với tên chung là Nuy qua. Tên khoa học: Solanum melongema, họ cà.Trong các loại cà đặc biệt là cà tím dài là thực phẩm có từ 2000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi, nó được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn… chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó. Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới.
Cà tím còn có tên cà dái dê, cà tím dài, cà dê. Không lẫn cà pháo cà dừa, cà bát vỏ tím. Tên Hán gọi cà với tên chung là Nuy qua. Tên khoa học: Solanum melongema, họ cà.Trong các loại cà đặc biệt là cà tím dài là thực phẩm có từ 2000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi, nó được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn… chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó. Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới.
Tác dụng của cà tím
Màu tím đậm của cà là bằng chứng cho thấy nó chứa nhiều chất chống ô xy hóa mạnh để bảo vệ các tế bào não và kiểm soát hàm lượng chất béo lipid. Theo báo The Times of India dẫn nguồn từ các chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, cà tím còn có nhiều công dụng khác như:
1. Giảm nguy cơ ung thư
Chất xơ đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị ung thư đại tràng vì nó là một dưỡng chất tương đối xốp, và vì điều này, khi di chuyển qua đường tiêu hóa, nó có xu hướng hấp thụ độc tố và hóa chất có thể gây ra bệnh ung thư ruột kết.Để có kết quả tốt nhất, những ai muốn giảm nguy cơ phát bệnh ung thư đại tràng nên ăn cả lớp vỏ cà tím. Nghiên cứu phát hiện ra rằng lớp vỏ cà tím có thể chứa nhiều chất xơ hơn bản thân trái cà.
2. Giảm cân
Chất xơ trong cà tím còn có công dụng khác là giảm cân. Chất xơ là thực phẩm tương đối “cồng kềnh”, tức nó chiếm nhiều chỗ trong dạ dày. Do đó, khai vị bằng món cà tím, những người ăn kiêng có thể có cảm giác no bụng và thường nạp ít calo hơn.
Ngoài ra, chất xơ là chất chậm tiêu hóa và mất nhiều thời gian để di chuyển từ dạ dày đến đường tiêu hóa. Chính vì điều này, cà tím giữ cho người ăn kiêng cảm thấy no lâu và không có nhu cầu ăn vặt giữa các bữa ăn, từ đó giúp giảm cân.
3. Giảm huyết áp bằng các món chay
Nhiều món chay dùng cà tím. Ví dụ: Cà tím nhồi om – cà tím dài 3 quả nhỏ. Nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm 2 nửa bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
4. Giúp bỏ thuốc lá
Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Michigan (Mỹ) đã phát hiện trong cà tím cũng có nicotin và thấy trong thí nghiệm ăn 10g cà tím có hiệu quả tương tự như hút thuốc suốt 3 giờ. Vậy có lời khuyên khi thèm thuốc lá hãy ăn các món cà tím ngon lành mát bổ lại tránh được độc hại.
5. Chữa đái ra máu
Sắc quả cà tím cả cuống để uống.
6. Phòng chống ban tía ở người già
Ở tuổi 60 – 70 người già thường bị trên mặt, tay có tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.
7. Viêm phế quản cấp
Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà cắt dọc dài. Gừng thái lát, tỏi nghiền trộn nước tương, dầu, muối, đường. Chưng cách thuỷ. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm nhiệt.
8. Viêm gan vàng da
Dùng mấy quả cà tím thái nhỏ trộn với gạo nấu thành món cơm – cà, ăn liên tục nhiều ngày.
9. Bí đái
Dùng hạt sắc uống để lợi tiểu.
10. Táo bón
Dùng quả cà tím, hàng ngày lấy khoảng 100 – 200g nấu các món ăn đơn giản để ăn cùng cơm.
Kiêng kỵ: Theo sách cổ cà tím tính rất lạnh, không nên phối hợp với thức ăn lạnh khác mà còn nên thêm vài ba lát gừng để giảm tính lạnh. Người tạng hàn, hay đi ngoài lỏng khi cần dùng nên thận trọng hơn. Không nên dùng khi quả cà dập nát! Ăn càng tươi càng tốt.
Một số bài thuốc, món ăn chữa bệnh có dùng cà tím tham khảo theo báo Sức khỏe đời sống và Bài thuốc hay:
• Cà tím xào mã đề
Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm; rồi bỏ cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.
• Canh gà, cà tím
Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng; cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn. Có tác dụng tiêu thực tan ứ, giảm mỡ, hạ huyết áp.
Màu tím đậm của cà là bằng chứng cho thấy nó chứa nhiều chất chống ô xy hóa mạnh để bảo vệ các tế bào não và kiểm soát hàm lượng chất béo lipid. Theo báo The Times of India dẫn nguồn từ các chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, cà tím còn có nhiều công dụng khác như:
1. Giảm nguy cơ ung thư
Chất xơ đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị ung thư đại tràng vì nó là một dưỡng chất tương đối xốp, và vì điều này, khi di chuyển qua đường tiêu hóa, nó có xu hướng hấp thụ độc tố và hóa chất có thể gây ra bệnh ung thư ruột kết.Để có kết quả tốt nhất, những ai muốn giảm nguy cơ phát bệnh ung thư đại tràng nên ăn cả lớp vỏ cà tím. Nghiên cứu phát hiện ra rằng lớp vỏ cà tím có thể chứa nhiều chất xơ hơn bản thân trái cà.
2. Giảm cân
Chất xơ trong cà tím còn có công dụng khác là giảm cân. Chất xơ là thực phẩm tương đối “cồng kềnh”, tức nó chiếm nhiều chỗ trong dạ dày. Do đó, khai vị bằng món cà tím, những người ăn kiêng có thể có cảm giác no bụng và thường nạp ít calo hơn.
Ngoài ra, chất xơ là chất chậm tiêu hóa và mất nhiều thời gian để di chuyển từ dạ dày đến đường tiêu hóa. Chính vì điều này, cà tím giữ cho người ăn kiêng cảm thấy no lâu và không có nhu cầu ăn vặt giữa các bữa ăn, từ đó giúp giảm cân.
3. Giảm huyết áp bằng các món chay
Nhiều món chay dùng cà tím. Ví dụ: Cà tím nhồi om – cà tím dài 3 quả nhỏ. Nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm 2 nửa bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
4. Giúp bỏ thuốc lá
Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Michigan (Mỹ) đã phát hiện trong cà tím cũng có nicotin và thấy trong thí nghiệm ăn 10g cà tím có hiệu quả tương tự như hút thuốc suốt 3 giờ. Vậy có lời khuyên khi thèm thuốc lá hãy ăn các món cà tím ngon lành mát bổ lại tránh được độc hại.
5. Chữa đái ra máu
Sắc quả cà tím cả cuống để uống.
6. Phòng chống ban tía ở người già
Ở tuổi 60 – 70 người già thường bị trên mặt, tay có tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.
7. Viêm phế quản cấp
Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà cắt dọc dài. Gừng thái lát, tỏi nghiền trộn nước tương, dầu, muối, đường. Chưng cách thuỷ. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm nhiệt.
8. Viêm gan vàng da
Dùng mấy quả cà tím thái nhỏ trộn với gạo nấu thành món cơm – cà, ăn liên tục nhiều ngày.
9. Bí đái
Dùng hạt sắc uống để lợi tiểu.
10. Táo bón
Dùng quả cà tím, hàng ngày lấy khoảng 100 – 200g nấu các món ăn đơn giản để ăn cùng cơm.
Kiêng kỵ: Theo sách cổ cà tím tính rất lạnh, không nên phối hợp với thức ăn lạnh khác mà còn nên thêm vài ba lát gừng để giảm tính lạnh. Người tạng hàn, hay đi ngoài lỏng khi cần dùng nên thận trọng hơn. Không nên dùng khi quả cà dập nát! Ăn càng tươi càng tốt.
Một số bài thuốc, món ăn chữa bệnh có dùng cà tím tham khảo theo báo Sức khỏe đời sống và Bài thuốc hay:
• Cà tím xào mã đề
Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm; rồi bỏ cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.
• Canh gà, cà tím
Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng; cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn. Có tác dụng tiêu thực tan ứ, giảm mỡ, hạ huyết áp.
Tag :
mon-an-chua-benh,
Trị cao mỡ mau
Trị cao mỡ mau
• 4 củ tỏi loại to
• 4 trái chanh tươi, mọng nước
• 1 nhánh gừng có độ dài từ 3 đến 4 cm
• 2 lít nước sôi để nguội
Cách chế biến nước uống giảm mỡ máu
Bóc sạch vỏ tỏi, gọt bỏ vỏ chanh và gừng sau đó rửa sạch các nguyên liệu này rồi cho vào máy xay sinh tố cùng một chút nước xay cho đến khi hỗn hợp nhuyễn ra (nếu không có máy xay sinh tố có thể băm nhuyễn hỗn hợp trên).
Sau khi hỗn hợp trên đã nhuyễn tiếp đến cho hỗn hợp đó vào nồi cùng với 2 lít nước sôi để nguội ở trên, bắc lên bếp và đun sôi, khi hỗn hợp sôi thì khuấy đều trong khoảng 10 phút và tắt bếp.
Để hỗn hợp nguội sau đó dùng dụng cụ lọc để lấy nước, bạn có thể dùng lọ thủy tinh để đựng nước lọc được từ hỗn hợp trên và bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh dùng dần.
Với nước uống này bạn chỉ sử dụng 200ml/ngày và nên sử dụng 2 tiếng trước khi ăn, tốt nhất bạn nên sử dụng vào buổi sáng sớm khi chưa ăn gì bởi khi uống vào thời điểm này sẽ kích thích hoạt động của toàn bộ hệ tiêu hóa từ đó giúp quá trình đào thải các chất độc hại ra khỏi cơ thể nhanh hơn. Trước khi sử dụng nên lắc kỹ nước uống và sau khi uống hết hỗn hợp thì tạm nghỉ trong 6 ngày sau đó chế biến thêm 1 lần hỗn hợp nữa và sử dụng.
Hỗn hợp này sẽ không gây tác dụng phụ hay ảnh hưởng xấu gì cho sức khỏe mà nó còn mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe ngoài những lợi ích đã kể trên. Nếu bạn muốn tăng cường sức đề kháng hoặc cải thiện sức khỏe thì có thể làm hỗn hợp trên để sử dụng, hỗn hợp này đặc biệt rất tốt cho người già, người ốm yếu, người mới ốm dậy.
Nguyên liệu để sử dụng cho công thức này là những nguyên liệu mà bạn vẫn sử dụng hàng ngày nhưng chắc bạn sẽ không bao giờ nghĩ là chúng có thể kết hợp với nhau để tạo ra được một loại nước uống có lợi với sức khỏe như vậy. Mong rằng thông tin này sẽ giúp bạn có được một công thức vàng trong việc tăng cường sức khỏe và cải thiện tình trạng mỡ máu cao.
Hỗn hợp này sẽ không gây tác dụng phụ hay ảnh hưởng xấu gì cho sức khỏe mà nó còn mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe ngoài những lợi ích đã kể trên. Nếu bạn muốn tăng cường sức đề kháng hoặc cải thiện sức khỏe thì có thể làm hỗn hợp trên để sử dụng, hỗn hợp này đặc biệt rất tốt cho người già, người ốm yếu, người mới ốm dậy.
Nguyên liệu để sử dụng cho công thức này là những nguyên liệu mà bạn vẫn sử dụng hàng ngày nhưng chắc bạn sẽ không bao giờ nghĩ là chúng có thể kết hợp với nhau để tạo ra được một loại nước uống có lợi với sức khỏe như vậy. Mong rằng thông tin này sẽ giúp bạn có được một công thức vàng trong việc tăng cường sức khỏe và cải thiện tình trạng mỡ máu cao.
• 4 củ tỏi loại to
• 4 trái chanh tươi, mọng nước
• 1 nhánh gừng có độ dài từ 3 đến 4 cm
• 2 lít nước sôi để nguội
Cách chế biến nước uống giảm mỡ máu
Bóc sạch vỏ tỏi, gọt bỏ vỏ chanh và gừng sau đó rửa sạch các nguyên liệu này rồi cho vào máy xay sinh tố cùng một chút nước xay cho đến khi hỗn hợp nhuyễn ra (nếu không có máy xay sinh tố có thể băm nhuyễn hỗn hợp trên).
Sau khi hỗn hợp trên đã nhuyễn tiếp đến cho hỗn hợp đó vào nồi cùng với 2 lít nước sôi để nguội ở trên, bắc lên bếp và đun sôi, khi hỗn hợp sôi thì khuấy đều trong khoảng 10 phút và tắt bếp.
Để hỗn hợp nguội sau đó dùng dụng cụ lọc để lấy nước, bạn có thể dùng lọ thủy tinh để đựng nước lọc được từ hỗn hợp trên và bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh dùng dần.
• 4 trái chanh tươi, mọng nước
• 1 nhánh gừng có độ dài từ 3 đến 4 cm
• 2 lít nước sôi để nguội
Cách chế biến nước uống giảm mỡ máu
Bóc sạch vỏ tỏi, gọt bỏ vỏ chanh và gừng sau đó rửa sạch các nguyên liệu này rồi cho vào máy xay sinh tố cùng một chút nước xay cho đến khi hỗn hợp nhuyễn ra (nếu không có máy xay sinh tố có thể băm nhuyễn hỗn hợp trên).
Sau khi hỗn hợp trên đã nhuyễn tiếp đến cho hỗn hợp đó vào nồi cùng với 2 lít nước sôi để nguội ở trên, bắc lên bếp và đun sôi, khi hỗn hợp sôi thì khuấy đều trong khoảng 10 phút và tắt bếp.
Để hỗn hợp nguội sau đó dùng dụng cụ lọc để lấy nước, bạn có thể dùng lọ thủy tinh để đựng nước lọc được từ hỗn hợp trên và bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh dùng dần.
Với nước uống này bạn chỉ sử dụng 200ml/ngày và nên sử dụng 2 tiếng trước khi ăn, tốt nhất bạn nên sử dụng vào buổi sáng sớm khi chưa ăn gì bởi khi uống vào thời điểm này sẽ kích thích hoạt động của toàn bộ hệ tiêu hóa từ đó giúp quá trình đào thải các chất độc hại ra khỏi cơ thể nhanh hơn. Trước khi sử dụng nên lắc kỹ nước uống và sau khi uống hết hỗn hợp thì tạm nghỉ trong 6 ngày sau đó chế biến thêm 1 lần hỗn hợp nữa và sử dụng.
Hỗn hợp này sẽ không gây tác dụng phụ hay ảnh hưởng xấu gì cho sức khỏe mà nó còn mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe ngoài những lợi ích đã kể trên. Nếu bạn muốn tăng cường sức đề kháng hoặc cải thiện sức khỏe thì có thể làm hỗn hợp trên để sử dụng, hỗn hợp này đặc biệt rất tốt cho người già, người ốm yếu, người mới ốm dậy.
Nguyên liệu để sử dụng cho công thức này là những nguyên liệu mà bạn vẫn sử dụng hàng ngày nhưng chắc bạn sẽ không bao giờ nghĩ là chúng có thể kết hợp với nhau để tạo ra được một loại nước uống có lợi với sức khỏe như vậy. Mong rằng thông tin này sẽ giúp bạn có được một công thức vàng trong việc tăng cường sức khỏe và cải thiện tình trạng mỡ máu cao.
Hỗn hợp này sẽ không gây tác dụng phụ hay ảnh hưởng xấu gì cho sức khỏe mà nó còn mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe ngoài những lợi ích đã kể trên. Nếu bạn muốn tăng cường sức đề kháng hoặc cải thiện sức khỏe thì có thể làm hỗn hợp trên để sử dụng, hỗn hợp này đặc biệt rất tốt cho người già, người ốm yếu, người mới ốm dậy.
Nguyên liệu để sử dụng cho công thức này là những nguyên liệu mà bạn vẫn sử dụng hàng ngày nhưng chắc bạn sẽ không bao giờ nghĩ là chúng có thể kết hợp với nhau để tạo ra được một loại nước uống có lợi với sức khỏe như vậy. Mong rằng thông tin này sẽ giúp bạn có được một công thức vàng trong việc tăng cường sức khỏe và cải thiện tình trạng mỡ máu cao.
Tag :
Bài Thuốc Hay,
Lý Thời Trân
Lý Thời Trân
Lý Thời Trân
Lý Thời Trân (tiếng Trung phồn thể: 李時珍; giản thể: 李时珍; bính âm: Lǐ Shízhēn; Wade-Giles: Li Shih-Chen, 1518–1593), tự là Đông Bích, lúc già có hiệu là Tần Hồ sơn nhân, là một danh y và nhà dược học nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Minh, người Kỳ Châu (nay là trấn Kỳ Châu, huyện Kỳ Xuân, địa cấp thị Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc). Ông là tác giả của cuốn Bản thảo cương mục (本草纲目) hoàn thành năm 1578, viết về công dụng trong đông y của các loại thảo dược, dược liệu Trung Hoa. Ông cũng được coi là một trong các nhà tự nhiên học vĩ đại nhất tại Trung Quốc, và ông rất quan tâm tới việc phân loại chính xác các thành phần thảo dược.
Ông sinh trưởng trong gia đình theo nghề thầy thuốc. Ngay từ nhỏ ông đã có chí hướng theo nghề y cứu người. Nhưng theo trào lưu xã hội phong kiến Trung Hoa trọng khoa cử để làm quan nên năm 14 tuổi, ông đã đi thi và đỗ tú tài. Tuy vậy, sau ba lần thi cử nhân đều không đỗ, ông đã xin cha mình theo học y thuật và hành nghề thầy thuốc. Sau trên mười năm học tập gian nan, khi trên 30 tuổi, ông đã trở thành một thầy thuốc nổi tiếng khắp vùng.
Năm 1551, do trị khỏi bệnh cho con của hoàng thân nhà Minh là Phú Thuận vương Chu Hậu Khôn tiếng tăm của ông lan xa, ông được Sở vương Chu Anh Kiểm ở Vũ Xương mời làm chức Phụng từ chính ở vương phủ, kiêm chức Lương y sở sự vụ. Năm 1556, ông lại được tiến cử chức Thái y viện phán quan ở Thái y viện. Nhưng vì không thích công danh, nên một năm sau ông từ chức về nhà chuyên tâm viết sách y thuật.
Từ năm 35 tuổi (1552), ông đã bắt đầu biên soạn sách Bản thảo cương mục. Để biết rõ hình trạng, tính chất, mùi vị, công hiệu, v.v... của các loại thảo dược, dược liệu đông y, ông đã đi điền dã bốn phương, sưu tầm khắp thâm sơn cùng cốc. Sau 27 năm lao động khó nhọc, với 3 lần sửa đổi bản thảo lớn, vào năm 1578 (ở tuổi 61) ông đã hoàn thành bộ sách. Nhưng phải tới năm 1596, ba năm sau khi ông qua đời, bộ sách Bản thảo cương mục mới chính thức được xuất bản tại Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Bộ sách này là một cống hiến vĩ đại cho sự phát triển ngành dược liệu học Trung Quốc. Bộ sách được coi là một pho từ điển bách khoa của Trung Quốc về y dượcđông y với nội dung gồm: 16 phần, 53 quyển, 2 triệu chữ tập hợp khoảng 1.893 loại cây thuốc (374 trong số đó do chính Lý Thời Trân nghiên cứu) cùng 11.096 đơn thuốc. Bộ sách này cũng miêu tả kiểu, dạng, hương vị, bản chất và ứng dụng của 1.094 cây thuốc trong điều trị bệnh. Bản thảo cương mục cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng và luôn là công trình tham khảo hàng đầu trong y học cổ truyền. Bộ sách của ông đề cập tới nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, như thực vật học, động vật học, khoáng vật học và luyện kim. Bộ sách này được tái bản thường xuyên và 5 cuốn của bản in đầu tiên vẫn còn tồn tại .
Là danh y giỏi về kinh mạch học đông y nên ngoài Bản thảo cương mục, Lý Thời Trân còn viết 11 quyển sách khác , bao gồm Tần Hồ mạch học (濒湖脉学) và Kỳ kinh bát mạch khảo (奇经八脉考)
Tag :
Danh-Y,
Trương Trọng Cảnh
Trương Trọng Cảnh
Trương Trọng Cảnh
Trương Cơ (giản thể: 张机, phồn thể: 張機; bính âm: Zhāng Jī, sinh khoảng năm 150, mất khoảng năm 219) tự Trọng Cảnh (giản thể: 仲景, phồn thể: 仲景; bính âm: Zhōngjǐng) là một thầy thuốc Trung Quốc hoạt động vào cuối đời Đông Hán. Ông được coi là một trong những nhân vật quan trọng nhất của lịch sử Đông y vì những đóng góp mang tính hệ thống về cả lý luận và thực nghiệm. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Thương hàn tạp bệnh luận, tuy đã thất lạc trong giai đoạn Tam Quốc nhưng sau đó đã được tổng hợp lại thành hai tập sách Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược, đây là hai trong bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y.
Tuy là thầy thuốc danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc, tiểu sử của Trương Trọng Cảnh lại ít được biết tới, trong sách Hậu Hán thư cũng không dẫn truyện về ông. Có tài liệu cho rằng ông sinh tại Nam Dương, Hà Nam, sau đó giữ một chức quan ở Trường Sa, Hồ Nam và sống trong khoảng thời gian từ năm 150 tới 219 tức là giai đoạn cuối thời nhà Hán. Cho đến nay người ta vẫn còn tranh cãi về ngày sinh, ngày mất chính xác của Trương Trọng Cảnh nhưng ông thường được cho là mất trước năm 220.
Sống và làm việc trong thời tao loạn cuối nhà Hán, Trương Trọng Cảnh đã tập hợp các tài liệu y học cổ như Tố vấn, Cửu quyển, Bát thập nhất nạn, Âm dương đại luận,Đài lư dược lục, Bình mạch biện chứng và kinh nghiệm cá nhân để viết ra tác phẩm y học xuất sắc Thương hàn tạp bệnh luận (phồn thể: 傷寒雜病論; bính âm: Shānghán Zábìng Lùn ) gồm 16 quyển. Tác phẩm này sau đó đã bị thất lạc trong thời Tam Quốc nhưng được người đời thu thập lại trong hai tập sách có tên Thương hàn luận (傷寒論) và Kim quỹ yếu lược (金櫃要略). Hai tập sách này cùng với Hoàng Đế nội kinh của Hoàng Đế và Nạn kinh của Biển Thước được coi là bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y (Nội nạn thương kim). Cho tới nay cả Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược đều đã được sửa đổi nhiều lần.
Những đóng góp mang tính cơ sở của Trương Trọng Cảnh khiến ông được xưng tụng là "Thánh y" (医圣) của Đông y.
**************************************************************************************************************************************************
Tag :
Danh-Y,
Hoa Đà
Hoa Đà
Hoa Đà
(chữ Hán: 華佗), tự là Nguyên Hóa (元化) (145-208) là một vị lương y nổi tiếng thời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y. Ông được xem là một trong những ông tổ của Đông Y.
Hoa Đà là người ở huyện Tiêu, nước Bái thuộc Dự châu, là đồng hương của Tào Tháo.
Hoa Đà nổi tiếng là thầy thuốc giỏi đương thời. Tào Tháo đã mắc bệnh đau đầu trong nhiều năm , sai người triệu ông đến chữa trị. Do thuốc của Hoa Đà hiệu nghiệm, ông được giữ lại trong quân Tào Tháo một thời gian. Những lúc bị đau, Tào Tháo nhờ Hoa Đà châm cứu cho một vài mũi kim thì bệnh tình đỡ đi nhiều.
Sau này Tào Tháo có người nhà mắc bệnh, lại gọi Hoa Đà tới chữa. Được một thời gian chưa xong, Hoa Đà xin về nhà thăm vợ có bệnh, lại xin nghỉ thêm ít lâu nữa. Tào Tháo nghi ngờ, sai người đến dò xét thì thấy vợ Hoa Đà không có bệnh gì, bèn hạ lệnh bắt Hoa Đà vào ngục hỏi tội. Bị ngục lại tra tấn, Hoa Đà chết trong ngục.
Năm 219, Tào Tháo lại tái phát bệnh đau đầu. Bị bệnh đau đầu hành hạ không có ai chữa được, Tào Tháo rất ân hận vì đã giết Hoa Đà . Tháng giêng năm 220, Tào Tháo qua đời.
Theo tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung thì Hoa Đà đã chữa bệnh cho Quan Vũ bằng cách mổ vai để nạo chất độc do mũi tên đâm vào trong lúc Quan Vũ vẫn bình thản đánh cờ vây. Hoa Đà được cho là đã biết áp dụng kỹ thuật gây mê bằng một hỗn hợp rượu và thảo dược được gọi là ma phí tán (麻沸散), 1600 năm trước khi người phương Tây biết áp dụng kỹ thuật này trong phẫu thuật.
Cũng theo tiểu thuyết này, Tào Tháo khi được Hoa Đà khuyên nên mổ sọ để cạo chất độc đã nghi Hoa Đà muốn giết mình nên tống ông vào ngục và giết chết Hoa Đà. Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hoa Đà vì cảm kích người gác ngục đã chăm sóc mình khi đang ở trong ngục nên đã truyền sách của mình cho người lính này. Tuy nhiên, do vợ của người lính đó sợ nếu chồng mình theo nghề y sẽ có kết cục bi thảm như Hoa Đà nên đã đốt mất, do đó tất cả sách vở của Hoa Đà về nghề y đã thất truyền.
Hoa Đà được cho là người sáng tác ra Ngũ Cầm Hí (五禽戲), tập luyện dựa theo động tác của năm loài vật: hổ, hươu, gấu, khỉ và chim .
Tag :
Danh-Y,
Biển Thước
Biển Thước
Biển Thước
Tên thật là Tần Hoãn tự Việt Nhân, vốn người châu Mạc, Bột Hải (nay là huyện Nhiệm Khâu, tỉnh Hà Bắc - thời Chiến quốc thuộc nước Triệu). Ông sinh khoảng năm 401 trước Công Nguyên, mất năm 310 trước Công nguyên, thọ hơn 90 tuổi.
Tác phẩm : "Biển Thước nội kinh", "Biển Thước ngoại kinh", "Nạn kinh"
Cơ duyên với nghề thầy thuốc
Thời còn trai trẻ, Tần Việt Nhân vốn là chủ một quán trọ, và sống bằng nghề này. Lúc đó có một lương y biệt danh là Trường Tang Quân thường trọ tại quán của Việt Nhân. Việt Nhân rất kính trọng vị lương y này, nên đã phục vụ rất chu đáo và không lấy tiền. Để đáp lại, Trường Tang Quân nhận Việt Nhân làm học trò và truyền hết sở học cho ông.Khi tay nghề đã thành thạo, Việt Nhân chuyển hẳn sang nghề thầy thuốc này, dần dần trở nên nổi tiếng, được dân chúng nước Triệu tặng cho biệt hiệu "Biển Thước tiên sinh" (tương truyền Biển Thước là một "lang băm" sống vào thời thượng cổ ở Trung Quốc).
Hành nghề cứu người
Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, thuật đồng bóng đang lan tràn, nghề y bị lạnh nhạt; nhiều người mắc bệnh không chịu uống thuốc mà cứ rước đồng bóng về để "đuổi quỉ, trừ tà". Thậm chí nhiều nước chư hầu còn đặt ra các chức quan "đại chức", "tư vu" để chuyên lo việc này. Biển Thước rất ghét thói mê tín ấy, thường xuyên đấu tranh chống lại nó một cách kiên trì, và thông qua hoạt động chữa bệnh có hiệu quả của mình để vạch trần trò hề mê tín của đồng bóng. Căn cứ vào kinh nghiệm dân gian và kinh nghiệm nhiều năm làm nghề của mình, Biển Thước đúc kết thành "tứ chẩn" trong phép khám và điều trị là nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch. Ngoài việc vận dụng thành thạo "tứ chẩn" để đoán bệnh, Biển Thước sử dụng nhiều biện pháp trị liệu như châm kim đá, châm cứu, xoa nóng, xoa bóp, mổ xẻ, cho uống thuốc v.v... Theo "Hán thư ngoại truyện", có lần Biển Thước dẫn năm người học trò đến nước Quắc (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) để làm thuốc, nghe nói thế tử nước Quắc bị bệnh qua đời đột ngột, ông cảm thấy đáng ngờ, bèn xin được vào xem. Quan sát một hồi, thấy cánh mũi "người chết" còn động đậy, hai chân còn ấm, Biển Thước chẩn đoán kỹ rồi kết luận: thế tử mắc chứng "thi quyết" (chết giả), có thể cứu sống được. Ông bèn châm kim các huyệt chủ yếu, tiếp theo sai học trò Tử Minh làm ngải cứu, Cốc Tử đổ thuốc, Tử Dung xoa bóp không ngừng tay. Hồi lâu, quả nhiên "người chết "dần dần tỉnh lại. Biển Thước lại dùng thuốc dán dưới hai nách, bệnh nhân ngồi dậy được ngay. Vua nước Quắc hết sức vui mừng, không tiếc lời khen ngợi. Người xem Biển Thước như thần tiên, cho rằng ông có thuật "cải tử hoàn sinh ". Biển Thước khiêm tốn giải thích: "Không phải tôi cứu sống người chết, mà người bệnh vốn chưa chết, tôi chỉ cứu người bệnh khỏi cơn hấp hối mà thôi".
Về tài dùng mắt đoán được bệnh, có một giai thoại về Biển Thước sau đây đã được sử gia Tư Mã Thiên ghi lại trong bộ "Sử Ký "và người đời sau nhắc lại một lần nữa trong bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc (ở hồi thứ 32). Chuyện như sau: Một hôm Biển Thước sang nước Tề gặp Tề Hoàn Công, thấy khí sắc vua Tề không tốt, bèn tâu: "Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm ". Tề Hoàn Công thờ ơ đáp: "Ta cảm thấy trong người rất khỏe, chẳng có bệnh tật gì cả ". Biển Thước lui ra, sau đó năm ngày lại vào yết kiến, nhìn sắc diện rồi khẳng định một lần nữa với vua Tề: "Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng rồi, phải chữa ngay đi". Hoàn Công tỏ vẻ khó chịu, không trả lời. Sau khi Biển Thước đi khỏi, ông mới bảo với mọi người: "Thầy thuốc chỉ khéo vẽ vời, hù dọa người ta. Ta chẳng có bệnh gì mà ông ta dám bảo là bệnh nặng. Thật vớ vẩn! ". Năm ngày sau nữa, Biển Thước lại vào yết kiến, chỉ mới nhìn mặt vua Tề, đã quay bước, bỏ đi thẳng. Hoàn Công sai người chạy theo hỏi, Biển Thước nói:"Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được, nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi ". Mấy ngày sau quả nhiên Hoàn Công phát bệnh. Ông vội cho người đi tìm Biển Thước, nhưng vị "thần y"đã đi sang nước Tần rồi. Bệnh Hoàn Công ngày càng trở nặng, chẳng bao lâu vị bá chủ chư hầu này tạ thế.
Về phương pháp bắt mạch của Biển Thước, cũng lưu truyền trong dân gian một giai thoại như sau: có lần Biển Thước đến nước Tấn, gặp lúc Triệu Giản Tử, người đang nắm quyền chính trị trong nước lâm bệnh, hôn mê đã năm ngày. Biển Thước bắt mạch, thấy tim mạch bệnh nhân đập yếu ớt, lại biết được tình hình chính trị nước Tấn lúc ấy vô cùng rối ren, đoán định là họ Triệu lao tâm quá mức, mắc chứng bệnh mạch máu (máu tuần hoàn không bình thường) dẫn đến hôn mê. Ông cho uống thuốc, hai ngày sau Triệu Giản Tử tỉnh lại và bệnh dần thuyên giảm.
Lại có một giai thoại khác nữa về vị"thần y": Một hôm có một phụ nữ khá đẹp đến gặp Biển Thước, xin một toa thuốc độc, có thể giết người mà không để lại dấu vết. Đối tượng mà người phụ nữ định đầu độc chính là chồng của chị ta, vì chị này vốn đã có tình ý với một người đàn ông khác. Biển Thước sợ nếu mình từ chối, sẽ có người khác giúp chị đàn bà hoàn thành tâm nguyện, nên giả vờ nhận lời. Ông dặn: về mua khoai mài (hoài sơn) gọt vỏ nấu với lươn cho chồng ăn, mỗi ngày một lần, ít lâu sẽ chết. Người đàn bà hớn hở về làm đúng như lời hướng dẫn.
Khoảng tháng sau, chị này mang lễ vật đến tạ ơn Biển Thước, báo tin chồng đã chết. Ông rất đỗi ngạc nhiên, chẳng hiểu sao khoai mài nấu cháo lươn là một món rất bổ dưỡng mà ăn vào lại chết. Biển Thước cảm thấy lương tâm cắn rứt, lại hoài nghi về kiến thức y học của chính mình, nên thề giải nghệ, không chữa cho bất kỳ ai. Ông còn lấy chìa khóa tủ sách thuốc nhà mình vứt xuống sông cạnh nhà.
Sau đó ít lâu, một hôm vừa thức dậy, Biển Thước thấy một chàng trai trẻ làm nghề đánh cá đến van xin ông làm phước cứu vợ anh ta đang bị sanh khó. Biển Thước nhớ lại lời thề dạo trước nên không thèm trả lời chàng trai, chỉ lớn tiếng bảo người nhà: "lấy nước rửa mặt" (cho ông)! Chàng ngư phủ lại ngỡ đó là lời vị danh y mách bảo cho mình, bèn ba chân bốn cẳng chạy về nhà làm đúng như thế. Quả nhiên vừa rửa mặt xong thì vợ anh ta đẻ được ngay.
Vài hôm sau, chàng trai đánh bắt được một con cá lớn, nhớ ơn thầy thuốc cứu vợ con mình, bèn kính cẩn đem con cá đến biếu. Một lần nữa, Biển Thước rất ngạc nhiên, mới hỏi: "Tôi có ơn huệ gì với anh đâu, mà anh đem cá tạ ơn?". Chàng trai đáp: "Nhờ ơn thầy dạy, tôi lấy nước rửa mặt cho vợ tôi thì vợ tôi sinh được ngay một thằng con trai rất cứng cáp, dễ thương, nên có chút quà này, mong thầy nhận cho". Biển Thước không sao lý giải được hai trường hợp hy hữu trên, cho là tại thời vận hên xui, nên cảm hứng thốt lên hai câu thơ:
Vận khứ, hoài sơn năng trí tử
Thời lai, thanh thủy khả thôi sinh
(nghĩa là: Hết thời, khoai mài có thể làm chết người; còn thời, nước lã có thể cứu sống người).
Sau khi chàng đánh cá về, người nhà đem cá ra mổ làm món nhắm cho nhà danh y uống rượu. Lại một sự không ngờ thứ ba xảy đến: khi mổ bụng cá, thấy chùm chìa khóa, lại chính là chìa khóa tủ sách thuốc mà Biển Thước đã ném xuống sông lúc trước. Ông tự nghiệm rằng: "Thiên mệnh" đã đặt cho mình nghề làm thuốc để cứu người, không thể chối bỏ (Từ đó ông ra sức nghiên cứu sâu thêm về y thuật, cứu được rất nhiều bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên ông vẫn chưa hiểu do đâu có tác dụng ngược lại của củ mài và nước lạnh.
Một hôm có người đem lươn lại bán. Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu. Biển Thước bảo người bán lươn đổ cả giỏ lươn xuống đất, thấy trong đám lươn chỉ có một con ngóc đầu lên cao, còn lại đầu rạp sát đất. Biển Thước mua con lươn ngóc đầu ấy đem làm thịt nấu cho chó ăn thì chó chết. Bấy giờ Biển Thước mới hiểu cái chết oan uổng của chàng trai có vợ lăng loàn là do ăn phải thứ lươn ngóc đầu lên chứ không phải tại khoai mài. Còn nước lã giúp vợ chàng đánh cá đẻ mau, vì chị ấy quá mệt, không còn sức rặn. Khi đem nước lạnh rửa mặt, sản phụ cảm thấy sảng khoái, sức mạnh tăng thêm nên sinh được dễ dàng chứ không có gì bí hiểm cả.
Bắt mạch, chẩn đoán chính xác bệnh tình là một cống hiến lớn của Biển Thước đối với y học Trung Quốc nói riêng, ngành Đông y nói chung. Trong "Sử ký", Tư Mã Thiêntán tụng:"Đến nay thiên hạ nói đến mạch là do Biển Thước vậy ". Thật ra nói thế có phần nào hơi phóng đại, nhưng đúng là Biển Thước rất tinh thông phép bắt mạch, chẩn đoán bệnh chính xác và trị bệnh giỏi như thần. Chính vì vậy nên dân gian có rất nhiều giai thoại truyền tụng về Biển Thước mà ở trên là một vài ví dụ. Nhưng đã là giai thoại thì tính chính xác rất hạn chế, chẳng hạn giai thoại về việc Biển Thước định bệnh cho Tề Hoàn Công. Thật ra, đó chỉ là một sự gán ghép, vì Tề Hoàn Công mất năm 643 trước Công Nguyên, hơn 200 năm sau Biển Thước mới ra đời. Cũng như giai thoại "khoai mài, nước lã"; có người cho là của một danh y Việt Nam chứ không phải của Biển Thước v.v... (tùy độc giả suy luận). Duy có sự tích sau đây thì đúng là sự thật. Đó là lần Biển Thước diện kiến Tần Vũ Vương. Sau khi nghe vua Tần kể bệnh Biển Thước xin được điều trị. Một số người can ngăn vua Tần: "Đại vương đau ở phía trước tai, phía dưới mắt. Trị chưa chắc đã hết, không khéo tai lại hóa điếc, mắt hóa mờ mất". Tần Vũ Vương vốn nhát, nghe vậy bèn thôi, không cho Biển Thước trị bệnh. Biển Thước giận dữ, liệng cục đá đồ nghề xuống đất, mắng vua Tần:"Đại vương vấn kế bậc trí giả mà lại nghe lời kẻ ngu để hỏng việc. Điều đó cho tôi thấy chính trị của nước Tần như thế nào: nước Tần có thể mất vì đại vương đấy". (Đoạn trên ghi trong "Chiến quốc sách, chương "Tần sách").
Đến cuối đời, danh tiếng Biển Thước ngày càng lớn, càng khiến cho nhiều người ganh ghét, trong đó có một viên quan thái y nước Tần tên Ủy Hề. Hắn vốn là kẻ bất tài, thấy y thuật Biển Thước hơn người, sợ một ngày nào đó có thể thay vị trí của hắn. Vì vậy năm 310 trước Công Nguyên, khi Biển Thước đến hành nghề ở nước Tần, hắn sai người lén đâm chết ông. Nhân dân ở nhiều địa phương rất thương tiếc, đã cho dựng mộ, bia và thờ Biển Thước ở Thiểm Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam v.v...
Theo sách sử ghi chép, Biển Thước khi còn sống đã có sách "Biển Thước nội kinh", "Biển Thước ngoại kinh", đáng tiếc đều đã mất. Hiện còn quyển "Nạn kinh", có giá trị tham khảo khá cao về kinh mạch, tuy có người cho rằng sách này do người đời sau làm, lấy tên Biển Thước. Sử gia Tư Mã Thiên đánh giá Biển Thước rất cao: "Biển Thước hành nghề y làm kẻ đứng đắn tôn trọng, giữ mực thước tinh tế trong sáng, đời sau học theo không phải dễ". Thiết tưởng sự đánh giá của Tư Mã Thiên về "thần y" Biển Thước như trên không có gì là quá đáng.
******************************************************************************************************************************************************************************
Tag :
Danh-Y,
Lê Hữu Trác , Hải thượng lãng ông
Lê Hữu Trác
Hải Thượng Lãn Ông
("Ông già lười Hải Thượng") là biệt hiệu của danh y Lê Hữu Trác (11 tháng 12, 1720 – 1791). Ông tinh thông y học, văn chương, là danh nhân Việt Nam thế kỉ XVIII được nhiều người kính trọng.
Lê Hữu Trác sinh ngày 11 tháng 12 năm Canh Tý 1724 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. Là người con thứ bảy nên ông còn được gọi là cậu Chiêu Bảy.
Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ Tiến sĩ và làm quan to. Thân sinh của ông từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá, khi mất được truy tặng hàm Thượng thư (năm Kỷ Mùi 1739). Khi ấy, Lê Hữu Trác mới 20 tuổi, ông phải rời kinh thành về quê nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân.
Nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi. Chỉ một năm sau (1740), ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình" (Tựa "Tâm lĩnh").
Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá và mang bao đau thương, làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiều lần từ chối sự đề bạt. Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc "Phùng thị cẩm nang" và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu "Hải Thượng Lãn ông". Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. "Lãn ông" nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Mùa thu năm Bính Tý (1754), Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu.
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Y tôn tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782), ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đã 62 tuổi, sức yếu lại quyết chí xa lánh công danh, nhưng do theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm mà bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" ("Thượng kinh ký sự"), ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách. Vì vậy ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh, từ giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài. Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, ông nhiều lần xin về thăm cố hương Hải Dương, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Không lâu sau, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" ("Thượng kinh ký sự").
Sau khi Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được. Do nóng lòng trở về Hương Sơn, nhân có người tiến cử một lương y mới, Lê Hữu Trác liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh. Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" bằng chữ Hán tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa - những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm. Tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khí bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.
Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.
Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp "Nam dược trị Nam nhân" của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.
*******************************************************************************************************************************************************************************
Biển Thước
Tag :
Danh-Y,
Danh Y Tuệ Tĩnh
Tuệ Tĩnh
Tuệ Tĩnh
Tuệ Tĩnh Thiền sư (慧靜禪師, 1330-?), thường được gọi tắt là Tuệ Tĩnh hoặc Huệ Tĩnh (慧靜), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam.
Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Nam. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ ông ở đền Bia viết, dịch nghĩa như sau:
Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm giang
Nếu những kết quả nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học Việt Nam sau này không đưa thêm bằng chứng gì mới thì truyền thuyết địa phương và những công trình nghiên cứu chuyên môn khác cho phép khẳng định Tuệ Tĩnh là một nhân vật đời Trần. Ông chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh (阮伯靜), biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật, quê ở làng Xưa, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).
Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.
Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư, mất ở đó, không rõ năm nào. Bia văn chỉ ở làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy.
Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài "Phú thuốc Nam" 630 vị cũng dùng quốc ngữ. Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của ông thì Tuệ Tĩnh không những có vị trí trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học nữa.
Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: "Nam dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam! Trong trước tác của mình, ông không rập khuôn theo các trước tác của các đời trước, Ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên! Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v.
Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:
Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình
Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc. Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc của Việt Nam.
Tuệ Tĩnh Thiền sư (慧靜禪師, 1330-?), thường được gọi tắt là Tuệ Tĩnh hoặc Huệ Tĩnh (慧靜), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam.
Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Nam. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ ông ở đền Bia viết, dịch nghĩa như sau:
Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm giang
Nếu những kết quả nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học Việt Nam sau này không đưa thêm bằng chứng gì mới thì truyền thuyết địa phương và những công trình nghiên cứu chuyên môn khác cho phép khẳng định Tuệ Tĩnh là một nhân vật đời Trần. Ông chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh (阮伯靜), biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật, quê ở làng Xưa, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).
Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.
Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư, mất ở đó, không rõ năm nào. Bia văn chỉ ở làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy.
Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài "Phú thuốc Nam" 630 vị cũng dùng quốc ngữ. Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của ông thì Tuệ Tĩnh không những có vị trí trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học nữa.
Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: "Nam dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam! Trong trước tác của mình, ông không rập khuôn theo các trước tác của các đời trước, Ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên! Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v.
Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:
Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình
Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc. Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc của Việt Nam.
***************************************************************************************************************************************************************************
Tag :
Danh-Y,
Uống Nước Phải đúng cách
Ăn mặn gây ra áp lực máu cao, cũng có thể dẫn đến giảm tiết nước bọt, làm niêm mạc miệng bị phù nề, do vậy chúng ta thường có phản ứng khát nước ngay sau khi ăn mặn.
Nước không thể thiếu cho sức khoẻ của cơ thể. Tuy nhiên, nhiều thói quen uống nước phản khoa học sẽ gây nhiều ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cơ thể.
có biết, các cây nước nóng lạnh ở gia đình hay văn phòng làm việc lại chính là nơi ẩn náu của rất nhiều loại vi khuẩn trong đó có các loại nấm mốc vi khuẩn đặc biệt nguy hiểm như: E. coli, Staphylococcus gây tiêu chảy?
Ngoài các chất cặn trong nước lâu ngày tích tụ trong bình chứa nước, việc đóng mở van nước hàng ngày cũng là cách nhanh nhất để vi khuẩn xâm nhập, sinh sôi và phát triển.
Do vậy, hãy vệ sinh và lau rửa bình nước thường xuyên để đảm bảo có được nguồn nước sạch.
quên uống nước ngay sau khi ăn mặn
Ăn mặn gây ra áp lực máu cao, cũng có thể dẫn đến giảm tiết nước bọt, làm niêm mạc miệng bị phù nề, do vậy chúng ta thường có phản ứng khát nước ngay sau khi ăn mặn.
Sữa đậu nành là sự lựa chọn lý tưởng cho bạn sau bữa ăn nhiều muối bởi loại nước này chứa 90% thành phần là nuớc, giúp bạn nhanh chóng giảm cảm giác khát cũng như làm trung hoà lượng muối trong cơ thể.
Bạn không nên uống sữa, sữa chua hoặc các loại nước có vị ngọt bởi đường càng làm tăng cảm giác khát.
Không uống nước trước khi ngủ
Thói quen uống nước trước khi ngủ đặc biệt tốt cho người cao tuổi bởi khi ngủ quá trình mất nước trong cơ thể nhanh hơn. Uống nước trước khi ngủ giúp lưu thông mạch máu, giảm nguy cơ đột quỵ và tắc mạch máu não ở người già.
Ngoài ra, trong mùa đông hanh khô, nước cũng có thể “nuôi dưỡng” đường hô hấp, giúp mọi người ngủ ngon hơn.
Theo tiin
Tag :
cam-nang-suc-khoe,
Chi tiết sản phẩm
Chúng tôi xin giới thiệu dòng sản phẩm Giúp chị em Nấu ăn ngon hơnCÁCH DÙNG: dùng tẩm ướp thức ăn như thịt kho tàu, bún chả, các đồ kho chiên xào và có thể dung để uống rất thơm ngon . Ướp khoảng 1 muỗng cafe , cho 5,6 người ăn
Giá Chỉ : 50 Ngàn VND
Chúng Tôi Khuyên Các Gia Đình và Các bạn làm dịch
vụ Kinh doanh ăn uống , ẩm thực nên Tham Khảo vì đây là
gia Vị rất tuyệt vời
này, ướp vào rất thơm và mùi vị lạ miệng dễ ăn .
Tag :
hướng-dẫn,
Bỏ túi bí kíp muối cà, sung, kim chi cực nhanh, cực giòn, ăn hoài không chán
1. Cà pháo dầm tỏi ớt
Nguyên liệu cần chuẩn bị:
– Cà pháo: 1kg (chọn quả cà không quá non hoặc quá già, có thể mua cà pháo trắng hoặc cà tím đều ngon)
– Ớt, nước mắm, đường, dấm táo, 3 củ tỏi.
Cách muối cà:
Bước 1: Cà cắt cuống, rửa sạch, bổ đôi. Ngâm trong nước muối pha loãng để cà không bị thâm và ra nhựa khoảng 1h cho đến khi thấy cà se mặt lại thì vớt ra để ráo nước.
Bước 2: Tỏi bóc vỏ, ớt rửa sạch. Cho 3 củ tỏi + khoảng 2 lạng ớt (tùy vào khẩu vị ăn cay của gia đình mà có thể tùy chỉnh lượng ớt) + 10 thìa đường vào cối giã nhuyễn thành hỗn hợp sền sệt.
Bước 3: Cho tiếp 2-3 thìa nhỏ nước mắm, 3 thìa giấm vào cối và khuấy đều. Có thể nêm nếm lại để hỗn hợp có vị vị chua ngọt mặn và cay nồng.
Bước 4: Cho cà vào một cái tô lớn, đổ hỗn hợp ở trên vào tô cà rồi trộn đều các thành phần với nhau.
Bước 5: Trộn xong các bạn đổ cà vào lọ hoặc tô có nắp đậy, đậy kín lại để khoảng 2-3 giờ rồi cất vào tủ lạnh để khoảng nửa ngày là có thể ăn được.
Vị chua ngọt và cay cay của cà muối tỏi ớt khiến ai cũng phải xuýt xoa ăn thêm bát cơm nữa đấy!
2. Sung muối tỏi ớt
Nguyên liệu cần chuẩn bị:
- Sung: 1kg (nên chọn sung nếp là ngon nhất, khi bổ ra có ruột màu tím hồng, hoặc mau sung xanh có cuống bám chùm thì quả sẽ tươi ngon hơn)
- Đường: 30g
- Muối tinh: 50g
- Tỏi, ớt, riềng tươi
- Nước: 1 lít;
– Quả sung: 1kg
– Vại, hũ hoặc lọ thủy tinh.
Cách muối sung:
Bước 1: Sung cắt bỏ cuống, rửa sạch. Muối sung cũng giống với cách muối cà, nếu bạn muốn ăn ngay thì có thể bổ đôi, để nguyên cả quả sẽ cần thời gian ủ lâu hơn.
Bước 2: Ngâm sung trong chậu có pha giấm loãng hoặc muối loãng trong 30 phút, làm như vậy sung sẽ trắng không bị thâm và chát.
Bước 3: Cho đường, muối, nước vào nồi đun sôi rồi nguội còn khoảng 30 độ. Bóc tỏi, đập dập, riềng giã nhỏ, ớt cắt nhỏ.
Bước 4: Vớt sung ngâm trong chậu ra cho ráo nước. Sau đó cho sung vào lọ thủy tinh hoặc vại; cho tiếp ớt, giềng, tỏi giã nhỏ vào. Tiếp tục cho nước muối đường đã đun vào.
Bước 5: Muối sung nhất định phải để sung chìm hoàn toàn trong nước ngâm do đó bạn có thể nèn bằng nẹp tre hoặc đổ một chút nước vào một túi bóng kính sạch rồi buộc đầu túi lại đặt vào trong lọ.
Để khoảng 2-3 ngày, sung sẽ ngấm đều gia vị, ăn rất giòn, chua chua cay cay cực ngon.
3. Kim chi muối
Nguyên liệu cần chuẩn bị:
– Cải thảo tươi: 2.5kg
– Củ cải trắng: 0.5kg
– Nước tinh khiết
– Gừng băm nhỏ: 1 bát
– Bát con tỏi băm: 1 bát
– Nước mắm ngon: 2 thìa
- Cà rốt: 0.5kg
- Táo xanh: ½ quả
– Muối trắng: 0.5kg
– Hành lá
– Ớt bột Hàn Quốc: ½ cốc
– Bột nếp: 1 chén
– Đường: 15gr
Cách muối kim chi:
Bước 1: Cải thảo tách thành từng lá rồi sửa sạch, thái khúc dài khoảng 4-5cm, rộng 3cm. Cho lá cải thảo vào một chậu lớn, đổ muối trắng đã chuẩn bị vào cải thảo và trộn đều tay, để khoảng 2 giờ.
Bước 2: Cà rốt và củ cải thái sợi.
Bước 3: Chuẩn bị phần gia vị ướp kim chi: Hòa bột nếp với nước quấy ở lửa vừa cho đến khi trở thành hỗn hợp sền sệt dạng hồ.
Bước 4: Gừng tỏi băm nhỏ trộn với hỗn hợp bột nếp, cho thêm đường và nước mắm vào trộn cùng. Nếu muốn các nguyên liệu hòa quyện bạn có thể cho vào máy xay xay nhuyễn rồi trộn cùng ớt bột Hàn Quốc.
Bước 5: Hành lá rửa sạch, thái khúc ngắn. Táo xanh gọt vỏ, cắt nhỏ rồi trộn chung với các gia vị ướp kim chi.
Bước 6: Cải thảo sau 2 giờ ngâm bạn vớt ra rồi vắt bớt cho đỡ mặn. Cho cải thảo vào trộn cùng với cà rốt, củ cải trắng đã thái sợi sau đó đổ gia vị vào ướp. Xếp cải thảo vào hộp để khoảng 1 tuần là có thể thưởng thức.
Món kim chi muối với vị cay đặc trưng của ớt bột Hàn Quốc và vị chua chua dịu nhẹ sẽ làm say đắm bất kì ai lỡ nếm thử.
Chúc bạn thành công.
Tag :
an-ngon,







