Xin Chào

Chào mừng các bạn ghé thăm Blog Nhà Thuốc Nam Gia Truyền Kim Anh Chúng Tôi. Mong các bạn góp ý để Blog ngày càng phát triển

Blogroll


Được tạo bởi Blogger.

About Me

Followers

Tổng số lượt xem trang

Online

Lưu trữ Blog

Dầu Thảo Dược Xoa Bóp

Translate

Trương Trọng Cảnh

Trương Trọng Cảnh
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhcaorjst9djasrKXBf88k0bA9IuV-CDQnRak7CeaIQFLBtnGYNE2aEEispcQdocIvyOC55Sy7l-vmQBdY0XmuIu1dvotDf77RObR70hXWBj4HvKT1N1IJSNueZx2Apowp4DuKoV_zixPKR/s1600/Truong+Trong+Canh.jpg

Trương Trọng Cảnh
Trương Cơ (giản thể: 张机, phồn thể: 張機; bính âm: Zhāng Jī, sinh khoảng năm 150, mất khoảng năm 219) tự Trọng Cảnh (giản thể: 仲景, phồn thể: 仲景; bính âm: Zhōngjǐng) là một thầy thuốc Trung Quốc hoạt động vào cuối đời Đông Hán. Ông được coi là một trong những nhân vật quan trọng nhất của lịch sử Đông y vì những đóng góp mang tính hệ thống về cả lý luận và thực nghiệm. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Thương hàn tạp bệnh luận, tuy đã thất lạc trong giai đoạn Tam Quốc nhưng sau đó đã được tổng hợp lại thành hai tập sách Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược, đây là hai trong bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y.


Tuy là thầy thuốc danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc, tiểu sử của Trương Trọng Cảnh lại ít được biết tới, trong sách Hậu Hán thư cũng không dẫn truyện về ông. Có tài liệu cho rằng ông sinh tại Nam Dương, Hà Nam, sau đó giữ một chức quan ở Trường Sa, Hồ Nam và sống trong khoảng thời gian từ năm 150 tới 219 tức là giai đoạn cuối thời nhà Hán. Cho đến nay người ta vẫn còn tranh cãi về ngày sinh, ngày mất chính xác của Trương Trọng Cảnh nhưng ông thường được cho là mất trước năm 220.
Sống và làm việc trong thời tao loạn cuối nhà Hán, Trương Trọng Cảnh đã tập hợp các tài liệu y học cổ như Tố vấn, Cửu quyển, Bát thập nhất nạn, Âm dương đại luận,Đài lư dược lục, Bình mạch biện chứng và kinh nghiệm cá nhân để viết ra tác phẩm y học xuất sắc Thương hàn tạp bệnh luận (phồn thể: 傷寒雜病論; bính âm: Shānghán Zábìng Lùn ) gồm 16 quyển. Tác phẩm này sau đó đã bị thất lạc trong thời Tam Quốc nhưng được người đời thu thập lại trong hai tập sách có tên Thương hàn luận (傷寒論) và Kim quỹ yếu lược (金櫃要略). Hai tập sách này cùng với Hoàng Đế nội kinh của Hoàng Đế và Nạn kinh của Biển Thước được coi là bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y (Nội nạn thương kim). Cho tới nay cả Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược đều đã được sửa đổi nhiều lần.
Những đóng góp mang tính cơ sở của Trương Trọng Cảnh khiến ông được xưng tụng là "Thánh y" (医圣) của Đông y.
**************************************************************************************************************************************************
Tag : ,

Hoa Đà

Hoa Đà
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgito2mUDjW2o0v8j07el7MM8XnphVmajEN8wTY8Qwksfidx6hZpsKr9QIVySFI3UEdZS4HPuB97qNQ8BHa_ZvMc_giNkfnC8UZGtB0qt_WLM1ZjWTNcZb11jhGJ9dewG04HmLVH56NHTzl/s200/Hoa+%25C4%2590%25C3%25A0.JPG
Hoa Đà
(chữ Hán: 華佗), tự là Nguyên Hóa (元化) (145-208) là một vị lương y nổi tiếng thời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa, được xem như thần y. Ông được xem là một trong những ông tổ của Đông Y.
Hoa Đà là người ở huyện Tiêu, nước Bái thuộc Dự châu, là đồng hương của Tào Tháo.
Hoa Đà nổi tiếng là thầy thuốc giỏi đương thời. Tào Tháo đã mắc bệnh đau đầu trong nhiều năm , sai người triệu ông đến chữa trị. Do thuốc của Hoa Đà hiệu nghiệm, ông được giữ lại trong quân Tào Tháo một thời gian. Những lúc bị đau, Tào Tháo nhờ Hoa Đà châm cứu cho một vài mũi kim thì bệnh tình đỡ đi nhiều.
Sau này Tào Tháo có người nhà mắc bệnh, lại gọi Hoa Đà tới chữa. Được một thời gian chưa xong, Hoa Đà xin về nhà thăm vợ có bệnh, lại xin nghỉ thêm ít lâu nữa. Tào Tháo nghi ngờ, sai người đến dò xét thì thấy vợ Hoa Đà không có bệnh gì, bèn hạ lệnh bắt Hoa Đà vào ngục hỏi tội. Bị ngục lại tra tấn, Hoa Đà chết trong ngục.
Năm 219, Tào Tháo lại tái phát bệnh đau đầu. Bị bệnh đau đầu hành hạ không có ai chữa được, Tào Tháo rất ân hận vì đã giết Hoa Đà . Tháng giêng năm 220, Tào Tháo qua đời.
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjY1zxYvSBMlrF3OOY43_mo-yhByOTWRbpBII-Rc01vMgp_jI_CwKXg9JqvDbU6Ih6nYeH-mG9HMKKDA-fiwe_Mk2ZpYAIzR9IlP9Um9cqf6NO7Y6epuVkwJcsjyCgc9iDW_YLdhJRkY9_8/s320/Hoa+Da.JPG
Theo tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung thì Hoa Đà đã chữa bệnh cho Quan Vũ bằng cách mổ vai để nạo chất độc do mũi tên đâm vào trong lúc Quan Vũ vẫn bình thản đánh cờ vây. Hoa Đà được cho là đã biết áp dụng kỹ thuật gây mê bằng một hỗn hợp rượu và thảo dược được gọi là ma phí tán (麻沸散), 1600 năm trước khi người phương Tây biết áp dụng kỹ thuật này trong phẫu thuật.
Cũng theo tiểu thuyết này, Tào Tháo khi được Hoa Đà khuyên nên mổ sọ để cạo chất độc đã nghi Hoa Đà muốn giết mình nên tống ông vào ngục và giết chết Hoa Đà. Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hoa Đà vì cảm kích người gác ngục đã chăm sóc mình khi đang ở trong ngục nên đã truyền sách của mình cho người lính này. Tuy nhiên, do vợ của người lính đó sợ nếu chồng mình theo nghề y sẽ có kết cục bi thảm như Hoa Đà nên đã đốt mất, do đó tất cả sách vở của Hoa Đà về nghề y đã thất truyền.
Hoa Đà được cho là người sáng tác ra Ngũ Cầm Hí (五禽戲), tập luyện dựa theo động tác của năm loài vật: hổ, hươu, gấu, khỉ và chim .
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiKNd8RQYXnASofGO511RDpkQs-Gm8vcya4EhzJBMQ4DRnYj323Nj0jpvScXnyQFPv_IiMoM5p_8JVQ0Cjb6MFr-aEnHC3y0chF-HBbi3wfCDMPd93EhapKHBIk4IymqMtpAClUZ_YNqC9S/s320/Hoa+Da+-+Tuong+.JPG
Tag : ,

Biển Thước

Biển Thước
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg-YWRY2GDmmiItEipp8D9-an5CeiG0efHExY8wvRafsdb2TN2RcPnkhbA_H3hoNmHW_UxGYrbXxs7uKQLTa8WRHcfPWSMeXGlrhycsxM_eQuof_eVegbUja5M2j99d64H4hAJcxGZjJXJF/s200/Th%25E1%25BA%25A7n+y+Bi%25E1%25BB%2583n+Th%25C6%25B0%25E1%25BB%259Bc+%2528T%25E1%25BA%25A7n+Vi%25E1%25BB%2587t+Nh%25C3%25A2n%2529.JPG
Biển Thước
Tên thật là Tần Hoãn tự Việt Nhân, vốn người châu Mạc, Bột Hải (nay là huyện Nhiệm Khâu, tỉnh Hà Bắc - thời Chiến quốc thuộc nước Triệu). Ông sinh khoảng năm 401 trước Công Nguyên, mất năm 310 trước Công nguyên, thọ hơn 90 tuổi.
Tác phẩm : "Biển Thước nội kinh", "Biển Thước ngoại kinh", "Nạn kinh"
Cơ duyên với nghề thầy thuốc
Thời còn trai trẻ, Tần Việt Nhân vốn là chủ một quán trọ, và sống bằng nghề này. Lúc đó có một lương y biệt danh là Trường Tang Quân thường trọ tại quán của Việt Nhân. Việt Nhân rất kính trọng vị lương y này, nên đã phục vụ rất chu đáo và không lấy tiền. Để đáp lại, Trường Tang Quân nhận Việt Nhân làm học trò và truyền hết sở học cho ông.Khi tay nghề đã thành thạo, Việt Nhân chuyển hẳn sang nghề thầy thuốc này, dần dần trở nên nổi tiếng, được dân chúng nước Triệu tặng cho biệt hiệu "Biển Thước tiên sinh" (tương truyền Biển Thước là một "lang băm" sống vào thời thượng cổ ở Trung Quốc).
Hành nghề cứu người
Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, thuật đồng bóng đang lan tràn, nghề y bị lạnh nhạt; nhiều người mắc bệnh không chịu uống thuốc mà cứ rước đồng bóng về để "đuổi quỉ, trừ tà". Thậm chí nhiều nước chư hầu còn đặt ra các chức quan "đại chức", "tư vu" để chuyên lo việc này. Biển Thước rất ghét thói mê tín ấy, thường xuyên đấu tranh chống lại nó một cách kiên trì, và thông qua hoạt động chữa bệnh có hiệu quả của mình để vạch trần trò hề mê tín của đồng bóng. Căn cứ vào kinh nghiệm dân gian và kinh nghiệm nhiều năm làm nghề của mình, Biển Thước đúc kết thành "tứ chẩn" trong phép khám và điều trị là nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch. Ngoài việc vận dụng thành thạo "tứ chẩn" để đoán bệnh, Biển Thước sử dụng nhiều biện pháp trị liệu như châm kim đá, châm cứu, xoa nóng, xoa bóp, mổ xẻ, cho uống thuốc v.v... Theo "Hán thư ngoại truyện", có lần Biển Thước dẫn năm người học trò đến nước Quắc (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) để làm thuốc, nghe nói thế tử nước Quắc bị bệnh qua đời đột ngột, ông cảm thấy đáng ngờ, bèn xin được vào xem. Quan sát một hồi, thấy cánh mũi "người chết" còn động đậy, hai chân còn ấm, Biển Thước chẩn đoán kỹ rồi kết luận: thế tử mắc chứng "thi quyết" (chết giả), có thể cứu sống được. Ông bèn châm kim các huyệt chủ yếu, tiếp theo sai học trò Tử Minh làm ngải cứu, Cốc Tử đổ thuốc, Tử Dung xoa bóp không ngừng tay. Hồi lâu, quả nhiên "người chết "dần dần tỉnh lại. Biển Thước lại dùng thuốc dán dưới hai nách, bệnh nhân ngồi dậy được ngay. Vua nước Quắc hết sức vui mừng, không tiếc lời khen ngợi. Người xem Biển Thước như thần tiên, cho rằng ông có thuật "cải tử hoàn sinh ". Biển Thước khiêm tốn giải thích: "Không phải tôi cứu sống người chết, mà người bệnh vốn chưa chết, tôi chỉ cứu người bệnh khỏi cơn hấp hối mà thôi".
Về tài dùng mắt đoán được bệnh, có một giai thoại về Biển Thước sau đây đã được sử gia Tư Mã Thiên ghi lại trong bộ "Sử Ký "và người đời sau nhắc lại một lần nữa trong bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc (ở hồi thứ 32). Chuyện như sau: Một hôm Biển Thước sang nước Tề gặp Tề Hoàn Công, thấy khí sắc vua Tề không tốt, bèn tâu: "Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm ". Tề Hoàn Công thờ ơ đáp: "Ta cảm thấy trong người rất khỏe, chẳng có bệnh tật gì cả ". Biển Thước lui ra, sau đó năm ngày lại vào yết kiến, nhìn sắc diện rồi khẳng định một lần nữa với vua Tề: "Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng rồi, phải chữa ngay đi". Hoàn Công tỏ vẻ khó chịu, không trả lời. Sau khi Biển Thước đi khỏi, ông mới bảo với mọi người: "Thầy thuốc chỉ khéo vẽ vời, hù dọa người ta. Ta chẳng có bệnh gì mà ông ta dám bảo là bệnh nặng. Thật vớ vẩn! ". Năm ngày sau nữa, Biển Thước lại vào yết kiến, chỉ mới nhìn mặt vua Tề, đã quay bước, bỏ đi thẳng. Hoàn Công sai người chạy theo hỏi, Biển Thước nói:"Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được, nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi ". Mấy ngày sau quả nhiên Hoàn Công phát bệnh. Ông vội cho người đi tìm Biển Thước, nhưng vị "thần y"đã đi sang nước Tần rồi. Bệnh Hoàn Công ngày càng trở nặng, chẳng bao lâu vị bá chủ chư hầu này tạ thế.
Về phương pháp bắt mạch của Biển Thước, cũng lưu truyền trong dân gian một giai thoại như sau: có lần Biển Thước đến nước Tấn, gặp lúc Triệu Giản Tử, người đang nắm quyền chính trị trong nước lâm bệnh, hôn mê đã năm ngày. Biển Thước bắt mạch, thấy tim mạch bệnh nhân đập yếu ớt, lại biết được tình hình chính trị nước Tấn lúc ấy vô cùng rối ren, đoán định là họ Triệu lao tâm quá mức, mắc chứng bệnh mạch máu (máu tuần hoàn không bình thường) dẫn đến hôn mê. Ông cho uống thuốc, hai ngày sau Triệu Giản Tử tỉnh lại và bệnh dần thuyên giảm.
Lại có một giai thoại khác nữa về vị"thần y": Một hôm có một phụ nữ khá đẹp đến gặp Biển Thước, xin một toa thuốc độc, có thể giết người mà không để lại dấu vết. Đối tượng mà người phụ nữ định đầu độc chính là chồng của chị ta, vì chị này vốn đã có tình ý với một người đàn ông khác. Biển Thước sợ nếu mình từ chối, sẽ có người khác giúp chị đàn bà hoàn thành tâm nguyện, nên giả vờ nhận lời. Ông dặn: về mua khoai mài (hoài sơn) gọt vỏ nấu với lươn cho chồng ăn, mỗi ngày một lần, ít lâu sẽ chết. Người đàn bà hớn hở về làm đúng như lời hướng dẫn.
Khoảng tháng sau, chị này mang lễ vật đến tạ ơn Biển Thước, báo tin chồng đã chết. Ông rất đỗi ngạc nhiên, chẳng hiểu sao khoai mài nấu cháo lươn là một món rất bổ dưỡng mà ăn vào lại chết. Biển Thước cảm thấy lương tâm cắn rứt, lại hoài nghi về kiến thức y học của chính mình, nên thề giải nghệ, không chữa cho bất kỳ ai. Ông còn lấy chìa khóa tủ sách thuốc nhà mình vứt xuống sông cạnh nhà.
Sau đó ít lâu, một hôm vừa thức dậy, Biển Thước thấy một chàng trai trẻ làm nghề đánh cá đến van xin ông làm phước cứu vợ anh ta đang bị sanh khó. Biển Thước nhớ lại lời thề dạo trước nên không thèm trả lời chàng trai, chỉ lớn tiếng bảo người nhà: "lấy nước rửa mặt" (cho ông)! Chàng ngư phủ lại ngỡ đó là lời vị danh y mách bảo cho mình, bèn ba chân bốn cẳng chạy về nhà làm đúng như thế. Quả nhiên vừa rửa mặt xong thì vợ anh ta đẻ được ngay.
Vài hôm sau, chàng trai đánh bắt được một con cá lớn, nhớ ơn thầy thuốc cứu vợ con mình, bèn kính cẩn đem con cá đến biếu. Một lần nữa, Biển Thước rất ngạc nhiên, mới hỏi: "Tôi có ơn huệ gì với anh đâu, mà anh đem cá tạ ơn?". Chàng trai đáp: "Nhờ ơn thầy dạy, tôi lấy nước rửa mặt cho vợ tôi thì vợ tôi sinh được ngay một thằng con trai rất cứng cáp, dễ thương, nên có chút quà này, mong thầy nhận cho". Biển Thước không sao lý giải được hai trường hợp hy hữu trên, cho là tại thời vận hên xui, nên cảm hứng thốt lên hai câu thơ:
Vận khứ, hoài sơn năng trí tử
Thời lai, thanh thủy khả thôi sinh
(nghĩa là: Hết thời, khoai mài có thể làm chết người; còn thời, nước lã có thể cứu sống người).
Sau khi chàng đánh cá về, người nhà đem cá ra mổ làm món nhắm cho nhà danh y uống rượu. Lại một sự không ngờ thứ ba xảy đến: khi mổ bụng cá, thấy chùm chìa khóa, lại chính là chìa khóa tủ sách thuốc mà Biển Thước đã ném xuống sông lúc trước. Ông tự nghiệm rằng: "Thiên mệnh" đã đặt cho mình nghề làm thuốc để cứu người, không thể chối bỏ (Từ đó ông ra sức nghiên cứu sâu thêm về y thuật, cứu được rất nhiều bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên ông vẫn chưa hiểu do đâu có tác dụng ngược lại của củ mài và nước lạnh.
Một hôm có người đem lươn lại bán. Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu. Biển Thước bảo người bán lươn đổ cả giỏ lươn xuống đất, thấy trong đám lươn chỉ có một con ngóc đầu lên cao, còn lại đầu rạp sát đất. Biển Thước mua con lươn ngóc đầu ấy đem làm thịt nấu cho chó ăn thì chó chết. Bấy giờ Biển Thước mới hiểu cái chết oan uổng của chàng trai có vợ lăng loàn là do ăn phải thứ lươn ngóc đầu lên chứ không phải tại khoai mài. Còn nước lã giúp vợ chàng đánh cá đẻ mau, vì chị ấy quá mệt, không còn sức rặn. Khi đem nước lạnh rửa mặt, sản phụ cảm thấy sảng khoái, sức mạnh tăng thêm nên sinh được dễ dàng chứ không có gì bí hiểm cả.
Bắt mạch, chẩn đoán chính xác bệnh tình là một cống hiến lớn của Biển Thước đối với y học Trung Quốc nói riêng, ngành Đông y nói chung. Trong "Sử ký", Tư Mã Thiêntán tụng:"Đến nay thiên hạ nói đến mạch là do Biển Thước vậy ". Thật ra nói thế có phần nào hơi phóng đại, nhưng đúng là Biển Thước rất tinh thông phép bắt mạch, chẩn đoán bệnh chính xác và trị bệnh giỏi như thần. Chính vì vậy nên dân gian có rất nhiều giai thoại truyền tụng về Biển Thước mà ở trên là một vài ví dụ. Nhưng đã là giai thoại thì tính chính xác rất hạn chế, chẳng hạn giai thoại về việc Biển Thước định bệnh cho Tề Hoàn Công. Thật ra, đó chỉ là một sự gán ghép, vì Tề Hoàn Công mất năm 643 trước Công Nguyên, hơn 200 năm sau Biển Thước mới ra đời. Cũng như giai thoại "khoai mài, nước lã"; có người cho là của một danh y Việt Nam chứ không phải của Biển Thước v.v... (tùy độc giả suy luận). Duy có sự tích sau đây thì đúng là sự thật. Đó là lần Biển Thước diện kiến Tần Vũ Vương. Sau khi nghe vua Tần kể bệnh Biển Thước xin được điều trị. Một số người can ngăn vua Tần: "Đại vương đau ở phía trước tai, phía dưới mắt. Trị chưa chắc đã hết, không khéo tai lại hóa điếc, mắt hóa mờ mất". Tần Vũ Vương vốn nhát, nghe vậy bèn thôi, không cho Biển Thước trị bệnh. Biển Thước giận dữ, liệng cục đá đồ nghề xuống đất, mắng vua Tần:"Đại vương vấn kế bậc trí giả mà lại nghe lời kẻ ngu để hỏng việc. Điều đó cho tôi thấy chính trị của nước Tần như thế nào: nước Tần có thể mất vì đại vương đấy". (Đoạn trên ghi trong "Chiến quốc sách, chương "Tần sách").
Đến cuối đời, danh tiếng Biển Thước ngày càng lớn, càng khiến cho nhiều người ganh ghét, trong đó có một viên quan thái y nước Tần tên Ủy Hề. Hắn vốn là kẻ bất tài, thấy y thuật Biển Thước hơn người, sợ một ngày nào đó có thể thay vị trí của hắn. Vì vậy năm 310 trước Công Nguyên, khi Biển Thước đến hành nghề ở nước Tần, hắn sai người lén đâm chết ông. Nhân dân ở nhiều địa phương rất thương tiếc, đã cho dựng mộ, bia và thờ Biển Thước ở Thiểm Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam v.v...
Theo sách sử ghi chép, Biển Thước khi còn sống đã có sách "Biển Thước nội kinh", "Biển Thước ngoại kinh", đáng tiếc đều đã mất. Hiện còn quyển "Nạn kinh", có giá trị tham khảo khá cao về kinh mạch, tuy có người cho rằng sách này do người đời sau làm, lấy tên Biển Thước. Sử gia Tư Mã Thiên đánh giá Biển Thước rất cao: "Biển Thước hành nghề y làm kẻ đứng đắn tôn trọng, giữ mực thước tinh tế trong sáng, đời sau học theo không phải dễ". Thiết tưởng sự đánh giá của Tư Mã Thiên về "thần y" Biển Thước như trên không có gì là quá đáng.
******************************************************************************************************************************************************************************
Tag : ,

Lê Hữu Trác , Hải thượng lãng ông

Lê Hữu Trác 
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6XEehtXuEk5yK4GwaMz4O6NRQf8ncA9_eeArp_F5YL_wOsmzxXMZ9OAHQQ5tAGXDhdo3vk4267SFC8KrT1jj6TbKZYrK9VD6fPuQ7zq71sJ3pkkYFlF_qJoqky9aTXNPOCgHc3nZ1c3ax/s320/H%25E1%25BA%25A3i+Th%25C6%25B0%25E1%25BB%25A3ng+L%25C3%25A3n+%25C3%2594ng.JPG
Hải Thượng Lãn Ông
 ("Ông già lười Hải Thượng") là biệt hiệu của danh y Lê Hữu Trác (11 tháng 12, 1720 – 1791). Ông tinh thông y học, văn chương, là danh nhân Việt Nam thế kỉ XVIII được nhiều người kính trọng.
Lê Hữu Trác sinh ngày 11 tháng 12 năm Canh Tý 1724 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. Là người con thứ bảy nên ông còn được gọi là cậu Chiêu Bảy.
Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ Tiến sĩ và làm quan to. Thân sinh của ông từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá, khi mất được truy tặng hàm Thượng thư (năm Kỷ Mùi 1739). Khi ấy, Lê Hữu Trác mới 20 tuổi, ông phải rời kinh thành về quê nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân.
Nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi. Chỉ một năm sau (1740), ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình" (Tựa "Tâm lĩnh").
Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá và mang bao đau thương, làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiều lần từ chối sự đề bạt. Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc "Phùng thị cẩm nang" và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu "Hải Thượng Lãn ông". Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. "Lãn ông" nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Mùa thu năm Bính Tý (1754), Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu.
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Y tôn tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782), ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đã 62 tuổi, sức yếu lại quyết chí xa lánh công danh, nhưng do theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm mà bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" ("Thượng kinh ký sự"), ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách. Vì vậy ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh, từ giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài. Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, ông nhiều lần xin về thăm cố hương Hải Dương, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Không lâu sau, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" ("Thượng kinh ký sự").
Sau khi Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được. Do nóng lòng trở về Hương Sơn, nhân có người tiến cử một lương y mới, Lê Hữu Trác liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh. Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" bằng chữ Hán tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa - những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm. Tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khí bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.
Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.
Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp "Nam dược trị Nam nhân" của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.
*******************************************************************************************************************************************************************************
Biển Thước
Tag : ,

Danh Y Tuệ Tĩnh

Tuệ Tĩnh
Description: https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhH4IJ3EnKqSFeHG9w7eAt9_3YKI1jwIWOdzNpZdIP1EeUqIoGVRBRl9OA3jz9Y099CAxEFv1YuLEeyvA0a6UL-r7Qo0P3YV5xCnxMYmNeEdY2qm0QkxPnGMhBVmL6SuDYvtJdYjns5YEW-/s320/Tu%25E1%25BB%2587+T%25C4%25A9nh.JPG
Tuệ Tĩnh
Tuệ Tĩnh Thiền sư (慧靜禪師, 1330-?), thường được gọi tắt là Tuệ Tĩnh hoặc Huệ Tĩnh (慧靜), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Nam. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ ông ở đền Bia viết, dịch nghĩa như sau:
Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm giang
Nếu những kết quả nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học Việt Nam sau này không đưa thêm bằng chứng gì mới thì truyền thuyết địa phương và những công trình nghiên cứu chuyên môn khác cho phép khẳng định Tuệ Tĩnh là một nhân vật đời Trần. Ông chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh (阮伯靜), biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật, quê ở làng Xưa, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).
Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.
Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư, mất ở đó, không rõ năm nào. Bia văn chỉ ở làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy.
Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài "Phú thuốc Nam" 630 vị cũng dùng quốc ngữ. Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của ông thì Tuệ Tĩnh không những có vị trí trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học nữa.
Từ bao đời nay, giới y học Việt Nam và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Câu nói của ông: "Nam dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam! Trong trước tác của mình, ông không rập khuôn theo các trước tác của các đời trước, Ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên! Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v.
Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:
Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình
Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc. Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc của Việt Nam.
***************************************************************************************************************************************************************************
Tag : ,

Uống Nước Phải đúng cách

Ăn mặn gây ra áp lực máu cao, cũng có thể dẫn đến giảm tiết nước bọt, làm niêm mạc miệng bị phù nề, do vậy chúng ta thường có phản ứng khát nước ngay sau khi ăn mặn.
Nước không thể thiếu cho sức khoẻ của cơ thể. Tuy nhiên, nhiều thói quen uống nước phản khoa học sẽ gây nhiều ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cơ thể.
có biết, các cây nước nóng lạnh ở gia đình hay văn phòng làm việc lại chính là nơi ẩn náu của rất nhiều loại vi khuẩn trong đó có các loại nấm mốc vi khuẩn đặc biệt nguy hiểm như: E. coli, Staphylococcus gây tiêu chảy?
Ngoài các chất cặn trong nước lâu ngày tích tụ trong bình chứa nước, việc đóng mở van nước hàng ngày cũng là cách nhanh nhất để vi khuẩn xâm nhập, sinh sôi và phát triển.
Do vậy, hãy vệ sinh và lau rửa bình nước thường xuyên để đảm bảo có được nguồn nước sạch.
uong nuoc dung cach 500x312 Uống nước sai cách gây hại cho sức khỏe
quên uống nước ngay sau khi ăn mặn
Ăn mặn gây ra áp lực máu cao, cũng có thể dẫn đến giảm tiết nước bọt, làm niêm mạc miệng bị phù nề, do vậy chúng ta thường có phản ứng khát nước ngay sau khi ăn mặn.
Sữa đậu nành là sự lựa chọn lý tưởng cho bạn sau bữa ăn nhiều muối bởi loại nước này chứa 90% thành phần là nuớc, giúp bạn nhanh chóng giảm cảm giác khát cũng như làm trung hoà lượng muối trong cơ thể.
Bạn không nên uống sữa, sữa chua hoặc các loại nước có vị ngọt bởi đường càng làm tăng cảm giác khát.
Không uống nước trước khi ngủ
Thói quen uống nước trước khi ngủ đặc biệt tốt cho người cao tuổi bởi khi ngủ quá trình mất nước trong cơ thể nhanh hơn. Uống nước trước khi ngủ giúp lưu thông mạch máu, giảm nguy cơ đột quỵ và tắc mạch máu não ở người già.
Ngoài ra, trong mùa đông hanh khô, nước cũng có thể “nuôi dưỡng” đường hô hấp, giúp mọi người ngủ ngon hơn.
Theo tiin
Chi tiết sản phẩm
Chúng tôi xin giới thiệu dòng sản phẩm Giúp chị em Nấu ăn ngon hơn
CÁCH DÙNG: dùng tẩm ướp thức ăn như thịt kho tàu, bún chả, các đồ kho chiên xào và có thể dung để uống rất thơm ngon . Ướp khoảng 1 muỗng cafe , cho  5,6 người ăn 
 Giá Chỉ : 50 Ngàn VND 


         Chúng Tôi Khuyên Các Gia Đình và Các bạn làm dịch

 vụ Kinh doanh ăn uống , ẩm thực nên Tham  Khảo vì đây là 

gia Vị rất tuyệt vời 

này, ướp vào rất thơm và mùi vị lạ miệng dễ ăn  .                  

Bỏ túi bí kíp muối cà, sung, kim chi cực nhanh, cực giòn, ăn hoài không chán

1. Cà pháo dầm tỏi ớt
Nguyên liệu cần chuẩn bị:
– Cà pháo: 1kg (chọn quả cà không quá non hoặc quá già, có thể mua cà pháo trắng hoặc cà tím đều ngon)
– Ớt, nước mắm, đường, dấm táo, 3 củ tỏi.
Cách muối cà:
Bước 1: Cà cắt cuống, rửa sạch, bổ đôi. Ngâm trong nước muối pha loãng để cà không bị thâm và ra nhựa khoảng 1h cho đến khi thấy cà se mặt lại thì vớt ra để ráo nước.
Bước 2: Tỏi bóc vỏ, ớt rửa sạch. Cho 3 củ tỏi + khoảng 2 lạng ớt (tùy vào khẩu vị ăn cay của gia đình mà có thể tùy chỉnh lượng ớt) + 10 thìa đường vào cối giã nhuyễn thành hỗn hợp sền sệt.
Bước 3: Cho tiếp 2-3 thìa nhỏ nước mắm, 3 thìa giấm vào cối và khuấy đều. Có thể nêm nếm lại để hỗn hợp có vị vị chua ngọt mặn và cay nồng.
Bước 4: Cho cà vào một cái tô lớn, đổ hỗn hợp ở trên vào tô cà rồi trộn đều các thành phần với nhau. 
Bước 5: Trộn xong các bạn đổ cà vào lọ hoặc tô có nắp đậy, đậy kín lại để khoảng 2-3 giờ rồi cất vào tủ lạnh để khoảng nửa ngày là có thể ăn được.
Vị chua ngọt và cay cay của cà muối tỏi ớt khiến ai cũng phải xuýt xoa ăn thêm bát cơm nữa đấy!
2. Sung muối tỏi ớt
Nguyên liệu cần chuẩn bị:
- Sung: 1kg (nên chọn sung nếp là ngon nhất, khi bổ ra có ruột màu tím hồng, hoặc mau sung xanh có cuống bám chùm thì quả sẽ tươi ngon hơn)
- Đường: 30g
- Muối tinh: 50g
- Tỏi, ớt, riềng tươi
- Nước: 1 lít;
– Quả sung: 1kg 
– Vại, hũ hoặc lọ thủy tinh.
Cách muối sung:
Bước 1: Sung cắt bỏ cuống, rửa sạch. Muối sung cũng giống với cách muối cà, nếu bạn muốn ăn ngay thì có thể bổ đôi, để nguyên cả quả sẽ cần thời gian ủ lâu hơn.
Bước 2: Ngâm sung trong chậu có pha giấm loãng hoặc muối loãng trong 30 phút, làm như vậy sung sẽ trắng không bị thâm và chát.
Bước 3: Cho đường, muối, nước vào nồi đun sôi rồi nguội còn khoảng 30 độ. Bóc tỏi, đập dập, riềng giã nhỏ, ớt cắt nhỏ.
Bước 4: Vớt sung ngâm trong chậu ra cho ráo nước. Sau đó cho sung vào lọ thủy tinh hoặc vại; cho tiếp ớt, giềng, tỏi giã nhỏ vào. Tiếp tục cho nước muối đường đã đun vào.
Bước 5: Muối sung nhất định phải để sung chìm hoàn toàn trong nước ngâm do đó bạn có thể nèn bằng nẹp tre hoặc đổ một chút nước vào một túi bóng kính sạch rồi buộc đầu túi lại đặt vào trong lọ.
Để khoảng 2-3 ngày, sung sẽ ngấm đều gia vị, ăn rất giòn, chua chua cay cay cực ngon.
3. Kim chi muối 
Nguyên liệu cần chuẩn bị:
– Cải thảo tươi: 2.5kg
– Củ cải trắng: 0.5kg
– Nước tinh khiết
– Gừng băm nhỏ: 1 bát
– Bát con tỏi băm: 1 bát
– Nước mắm ngon: 2 thìa
- Cà rốt: 0.5kg
- Táo xanh: ½ quả
– Muối trắng: 0.5kg
– Hành lá
– Ớt bột Hàn Quốc: ½ cốc
– Bột nếp: 1 chén
– Đường: 15gr
Cách muối kim chi:
Bước 1: Cải thảo tách thành từng lá rồi sửa sạch, thái khúc dài khoảng 4-5cm, rộng 3cm. Cho lá cải thảo vào một chậu lớn, đổ muối trắng đã chuẩn bị vào cải thảo và trộn đều tay, để khoảng 2 giờ.
Bước 2: Cà rốt và củ cải thái sợi.
Bước 3: Chuẩn bị phần gia vị ướp kim chi: Hòa bột nếp với nước quấy ở lửa vừa cho đến khi trở thành hỗn hợp sền sệt dạng hồ.
Bước 4: Gừng tỏi băm nhỏ trộn với hỗn hợp bột nếp, cho thêm đường và nước mắm vào trộn cùng. Nếu muốn các nguyên liệu hòa quyện bạn có thể cho vào máy xay xay nhuyễn rồi trộn cùng ớt bột Hàn Quốc.
Bước 5: Hành lá rửa sạch, thái khúc ngắn. Táo xanh gọt vỏ, cắt nhỏ rồi trộn chung với các gia vị ướp kim chi.
Bước 6: Cải thảo sau 2 giờ ngâm bạn vớt ra rồi vắt bớt cho đỡ mặn. Cho cải thảo vào trộn cùng với cà rốt, củ cải trắng đã thái sợi sau đó đổ gia vị vào ướp. Xếp cải thảo vào hộp để khoảng 1 tuần là có thể thưởng thức.
Món kim chi muối với vị cay đặc trưng của ớt bột Hàn Quốc và vị chua chua dịu nhẹ sẽ làm say đắm bất kì ai lỡ nếm thử.
Chúc bạn thành công.
Tag : ,

Dịch Cân Kinh

Hướng dẫn cách tập dịch cân kinh

Sau khi tập Dịch Cân Kinh, các thành viên trong gia đình mình ít nhiều đã hưởng được các lợi ích mà nó mang lại. Mình đã trị được căn bệnh táo bón đeo bám nhiều năm nay. Mẹ mình đã giảm hẳn tiểu đêm, chị gái đã bớt ngứa. Và mình tin rằng nó cũng sẽ mang lại kết quả tuyệt vời cho bạn. Vậy tại sao nó lại có hiệu quả như vậy và tập bằng cách nào?
Nếu bạn có tham khảo một số nguồn thông tin nói về Dịch Cân Kinh có thể thấy có nhiều cách tập khác nhau: có loại vẫy tay, có lại vẫy rồi nhún, có loại phải nhíu hậu môn co lưỡi. Mẹ và mình thời gian đầu tìm hiểu tài liệu cũng khá hoang mang về cách tập, nhưng sau đó quyết định theo một hướng duy nhất mà mình sẽ đề cập trong bài này là Dịch Cân Kinh cải cách bao gồm vẫy tay, nhíu mông và co lưỡi.
# Dịch Cân Kinh chữa được bệnh gì?
Trong các tài liệu ghi nhận các trường hợp được chữa khỏi khi tập Dịch Cân Kinh từ những bệnh nan y như ung thư, phổi, u não, tim, thận, bán thân bất toại,  cho tới những bệnh thông thường như hay đầy bụng, trĩ nội, hay mệt mỏi, uể oải.

1. Tại sao tập Dịch Cân Kinh có thể chữa được bệnh tật?

# Dịch Cân Kinh chữa được bệnh gì?
Từ những bệnh nan y như ung thư, phổi, u não, tim, thận, bán thân bất toại, cho tới những bệnh thông thường như hay đầy bụng, trĩ nội, hay mệt mỏi, uể oải đều được chữa khỏi sau khi tập Dịch Cân Kinh và được ghi nhận trong các tài liệu.
# Nguyên nhân gây ra bệnh
Bác sĩ Schulze từng chia sẻ trong cuốn sách “Không có bệnh gì là không chữa được” là bất kỳ chỗ nào trên cơ thể thấy có bệnh, hiển nhiên chỗ đó bị tắc nghẽn khỏi phần còn lại của cơ thể.
Hay trong cuốn “Làm sạch mạch và máu” tác giả Nishi Katsuzo có nói: chỉ có nước đứng yên mới bẩn, còn nước chảy luôn sạch. Cơ thể chúng ta giống như nước đang chảy, được lưu chuyển bình thường thì máu không bị ứ đọng; còn với ứ đọng, bất kỳ bệnh gì cũng sẽ có thể xảy ra.
Tắc nghẽn nghe có vẻ đơn giản, nhưng nó rất nguy hiểm vì:
  • Ngăn cản máu mang oxy và chất bổ dưỡng tới các tế bào để tái tạo
  • Hệ bạch huyết không thể mang tế bào miễn nhiễm tới chỗ bị đau
  • Không thể mang các chất cặn bã từ các tế bào đến cơ quan bài tiết
# Dịch Cân Kinh chữa bệnh như thếnào?
Về cơ bản Dịch Cân Kinh lấy sự lưu thông khí huyết là cốt lõi, khí huyết lưu thông sẽ mang máu tốt đi nuôi các bộ phận trong cơ thể, và đẩy đi các chất cặn bã bị ứ đọng. Khi tập Dịch Cân Kinh 5 huyệt (1 Bách hội trên đỉnh đầu, 2 Lao Cung ở hai lòng bàn tay, 2 Dũng Tuyền ở 2 lòng bàn chân) hoạt động mạnh hơn bình thường, làm thông suốt mạch Nhâm Đốc và 12 đường kinh, các cơ quan không bị trì trệ, âm dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
# 12 đường kinh: gồm 6 kinh âm và 6 kinh dương chạy dọc chân tay và thân mình phía trước và phía sau. Ngoài ra còn có các lạc là những nhánh phân ra từ kinh tạo thành mạng lưới đưa khí năng và sinh lực luân lưu qua mọi bộ phận và các mô bắp.
meridian-channels
Hình ảnh 12 đường kinh (nguồn: theamt.com)
Năm 1992 tại Bệnh viện Necker ở Paris, Tiến sĩ Jean-Claude Darras và Tiến sĩ Pierre de Vernejoul thực hiện 1 thí nghiệm nổi tiếng. Họ tiêm chất đánh dấu phóng xạ vô hại vào huyệt của 300 tình nguyện viên sau đó theo dõi sự di chuyển của nó bằng máy ảnh gamma. Khi tiêm vào các huyệt, các chất đánh dấu di chuyển đều đặn dọc theo con đường kinh, trùng hợp với miêu tả trong sách châm cứu. Nhưng khi tiêm vào chỗ không phải là huyệt thì nó giải ngân và biến mất.
Họ cũng nhận thấy rằng các chất đánh dấu di chuyển chậm hơn xung quanh các cơ quan bị bệnh và nhanh hơn xung quanh cơ quan khỏe mạnh, khẳng định quan niệm về bệnh do tắc nghẽn năng lượng.
Thí nghiệm này đã xác nhận sự tồn tại của mạng lưới kinh lạc, điều mà một số ý kiến của y học hiện đại trước đó đã bác bỏ và chế nhạo.
# Mạch Nhâm và mạch Đốc: bên cạnh 12 đường kinh liên kết với các nội tạng, còn có 8 kỳ kinh là khoảng giao nhau giữa 12 đường kinh, trong đó có mạch nhâm và mạch đốc.
  • Mạch Đốc là mạch của các kinh dương, nằm ở giữa cột sống, các kinh dương ở tay chân từ 12 đường kinh đều giao hội ở đây.
  • Mạch Nhâm là mạch của các kinh âm, nằm ở giữa bụng, các kinh âm ở chân giao hội ở đây
Nguồn: khongdungthuoc.com

Nhiều người vẫn nghĩ động tác phải phức tạp mới đem lại hiệu quả, nhưng ở Dịch Cân Kinh dù chỉ có một động tác duy nhất được lặp đi lặp lại, nhưng cái chính là nó giải quyết được sự ứ đọng trong cơ thể.
# Ý kiến cá nhân
Dịch Cân Kinh là một động tác tập khá đơn giản, chính sự đơn giản như vậy khiến cho nhiều người nghi ngờ về sự hiệu quả của nó. Trong các tài liệu Dịch Cân Kinh mà mình từng đọc không thiếu những câu chuyện thành công, đặc biệt là những người đã chữa khỏi căn bệnh ung thư mà y học hiện đại đôi khi bó tay.
Khi đặt lên bàn cân với công nghệ tiên tiến, Dịch Cân Kinh có vẻ “lép vế”, tuy nhiên chúng ta không nên so sánh bởi theo mình hai bên đi theo hai hướng khác nhau. Dù ra đời từ rất lâu Dịch Cân Kinh vẫn được lưu truyền đến nay và được nhiều người tập. Nếu bạn đang cảm thấy phiền lòng về những cơn ngứa, đau bụng, những cơn rùng mình ớn lạnh… không rõ lý do, đi khám bác sĩ không tìm ra bệnh thì Dịch Cân Kinh sẽ là giải pháp cho bạn (có thể bạn đang nằm trong nhóm sub-health. Xem thêm tại đây)
Trước đây khi còn nhỏ, mình đã từng thử tập Dịch Cân Kinh, nhưng chỉ được vài ngày vì thiếu niềm tin và sự kiên trì. Hiện tại mình đã tập lại, không chỉ có mình mà còn có mẹ và chị gái. Ngoài việc có nhiều người cùng tham gia tạo sự hứng khởi, chia sẻ kinh nghiệm và kết quả thì giờ đây nhờ có mạng Internet có thể tra cứu thêm nhiều thông tin để giải đáp các vấn đề thắc mắc, đã giúp mình có động lực để luyện tập.
Mình biết là bạn có thể vẫn đang nửa tin nửa ngờ. Tuy nhiên thay vì tiếp tục tự kỷ về tình trạng sức khoẻ của bản thân, sao bạn không thử bỏ ra vài phút để xem cách tập và thực hành. Chắc chắn sau khi tập bạn sẽ không còn thắc mắc tại sao nó lại “vi diệu” như vậy.
# Ưu điểm khi tập Dịch Cân Kinh
  • Không đòi hỏi công cụ kèm theo để tập. Bạn không phải tốn chi phí đầu tư mua dụng cụ.
  • Bạn hoàn toàn chủ động về thời gian khi tập. Bạn có thể tập vào buổi sáng, buổi trưa, chiều hay tối. Bạn sẽ không cảm thấy áy náy khi phải đột xuất tăng ca và nghỉ tập so với những lịch học TDTM cố định. Rất thích hợp cho những mẹ nuôi con nhỏ hay những ai hay di chuyển như các bác tài xế lái xe.
  • Những ai có sức khỏe kém vẫn có thể theo đuổi tập luyện.

2. Cách tập Dịch Cân Kinh

a. Tư thế Đứng

Mình sẽ chia Dịch Cân Kinh thành hai phần cho dễ thực hiện
  • Chuẩn bị
  • Vẫy

# Chuẩn bị

  • Mang dép. Tránh không để khí lạnh có cơ hội xâm nhập vào lòng bàn chân.
  • Chân dang ra rộng bằng vai. Tư thế đứng thoải mái.
  • Nhíu hậu môn và thót lên. Để việc nhíu hậu môn được duy trì trong suốt buổi tập thì bạn cần gồng cứng hai chân, và bấm các đầu ngón chân xuống.
Mình chỉ bấm phần mềm chỗ đầu ngón chân xuống, không quặp đầu ngón xuống làm tổn thương ngón.
  • Co đầu lưỡi chạm nhẹ vào nướu và chân răng hàm trên, răng khép lại và miệng ngậm.
  • Mặt nhìn thẳng về phía trước
  • Bàn tay khép các ngón tay lại.

# Vẫy

  1. Giơ hai tay ra đằng trước cao bằng vai.
  2. Dùng lực của vai và tay (lực của vai nhiều hơn) vẫy hai tay song song ra đằng sau. Thẳng ra sau hết cỡ.
  3. Nhờ có lực đẩy này mà tay sẽ có quán tính hất ra phía trước. Lúc này tùy vào lực mạnh hay yếu, đánh vòng hẹp hay vòng to mà tay có thể cao bằng hoặc thấp hơn vai.
  4. Sau đó lại dùng lực của vai để đẩy tay ra đằng sau. Lặp lại động tác trên.
  5. Thở bình thường
Dùng sức của vai đẩy tay ra đằng sau mạnh thì lúc hất ra đằng trước nhờ quán tính là sức dùng ở đây dùng nhẹ.
Nếu mới tập hoặc người không khoẻ (buổi sáng dậy còn thấy uể oải), mình có thể đánh vòng tay hẹp, tốc độ chậm, tay hất ra đằng trước thấp. Sau khi đánh được một lúc, cơ thể cảm thấy tươi tỉnh và khoẻ khoắn hơn, mình nên đánh vòng tay lớn hơn, tốc độ nhanh, tay hất ra đằng trước cao.
# Làm sao để biết mình vẫy đúng?
  • Khi đứng thẳng lưng và đưa tay ra sau hết cỡ, bạn sẽ cảm thấy lúc vẫy phần lưng đằng sau sẽ giựt lên giựt xuống.
  • Nếu dùng lực tay nhiều hơn lực vai sau một lúc vẫy tay sẽ cảm thấy mỏi. Cái này giống đánh cầu lông, dùng lực của cổ tay hơn là lực của cánh tay.
  • Trong quá trình vẫy nếu thắc mắc chỗ nào, bạn hãy xem thêm “Các câu hỏi thường gặp khi tập Dịch Cân Kinh
# Trong lúc vẫy luôn luôn kiểm tra 2 điều sau:
  • Có đang nhíu hậu môn không
  • Có đang thẳng lưng không, lúc tay vẫy ra đằng trước nếu chân không gồng cứng và bấm xuống có thể khiến cơ thể hơi chúi về phía trước.
# Sau khi kết thúc buổi tập 
Nên xoa nhẹ các ngón tay và ngón chân để máu lưu thông, đây là điều nên làm vì chân sau một hồi bấm xuống sẽ dễ bị tê.

b. Tư thế Ngồi

Đối với ai bị khiếm khuyết ở đôi chân không thể đứng tập, hoặc những người lớn tuổi từng bị tai biến, có thể tập Dịch Cân Kinh bằng cách ngồi trên ghế.
Lựa ghế không quá cao để khi ngồi bàn chân chạm đất, không có phần tựa lưng để tay vẫy từ trước ra sau không bị vướng. Mang dép, thực hiện nhíu mông, co lưỡi và vẫy tương tự với cách đứng.

3. Thực Hành

Trong tài liệu người ta sẽ khuyên bạn tập 1.800 cái, tương đương với khoảng 30 phút. Bạn tập dưới 800 cái sẽ giúp cơ thể khoẻ lên, từ 800 cái trở lên sẽ có tác dụng chữa bệnh.
Tuy nhiên dù bạn tập với số lượng ít hơn, Dịch Cân Kinh vẫn sẽ giúp bạn  cải thiện được tình trạng sức khoẻ. Tuần đầu tiên mỗi ngày mình tập 2 lần, mỗi lần 180 cái, mình đã ngủ rất ngon, ngủ thẳng giấc.
Đầu tiên, bạn cần chọn số lượng vẫy phù hợp để vẫy mỗi ngày. Đề xuất của mình là bạn dựa vào thời gian bạn có thể dành ra bao nhiêu, ví dụ như 5 phút, 10 phút hay 15 phút. Tuy nhiên tối thiểu là 5 phút nhé, ít quá sẽ không mang lại nhiều tác dụng đâu.
Kế tiếp quy đổi số phút đó ra số lượng vẫy, dựa trên bảng sau:
  • 5 phút = 300 cái
  • 10 phút = 600 cái
  • 15 phút = 900 cái
  •  20 phút = 1200 cái
  • 25 phút = 1500 cái
  • 30 phút = 1800 cái
Sau đó, mình sẽ lên kế hoạch tập nhé. Ví dụ mục tiêu là vẫy 15 phút = 900 cái. Nếu bạn mới toe, mình đề nghị bạn bắt đầu vẫy vào 2 ngày cuối tuần. Lúc này thời gian dư dả, để vừa xem qua lý thuyết và thực hành. Tốt nhất là nhờ một người đọc cho bạn những bước cần làm và kiểm tra trong lúc bạn thực hiện, cho đến khi bạn ghi nhớ hết và tự tin vẫy.
  • Tuần 1: vẫy 180 cái/ ngày.
  • Tuần 2: vẫy 300 cái/ ngày.
  • Tuần 3: vẫy 600 cái/ ngày.
  • Tuần 4 – cho đến về sau: 900 cái/ngày.
Đó là kế hoạch vẫy  mình đề xuất, bạn có thể linh hoạt sửa đổi, nhưng không được quá dễ (tăng số lượng vẫy từ từ) hoặc quá khó (đùng một cái cố vẫy lên 900 cái) thì sẽ dễ gây nhàm chán hay nản chí. Tăng số lượng vẫy một cách vừa phải cũng là cách để cơ thể dần thích nghi.
b. Làm sao để tập Dịch Cân Kinh thành công
Trong hầu hết các tài liệu về Dịch Cân Kinh, nội dung được đề cập tới chủ yếu là cách tập và các thành tựu chữa bệnh của nó. Nhưng chưa nhấn mạnh làm sao để tập thành công và duy trì được lâu dài. Dựa theo kinh nghiệm cá nhân và qua trao đổi với một vài anh chị cũng đang theo đuổi tập, mình rút ra được như sau.
Có 3 yếu tố mà bạn cần có là: Mục tiêu/động lực rõ ràng, niềm tin và sự tập trung
Mục tiêu/động lực rõ ràng
Trong các tài liệu ghi nhận nhiều người bệnh nan y tập mỗi ngày được 1800-2000 cái, thậm chí hơn. Ngẫm kỹ họ có thể làm được là do họ có động lực mạnh mẽ, họ muốn chiến thắng bệnh tật, họ muốn sống! Với chúng ta, những người còn trẻ, nếu được đề nghị tập thì rất khó. Chúng ta thích tập Gym, học nhảy vì cái kết quả trước mắt là sau khi tập vóc dáng săn chắc, được nhiều người ngưỡng mộ. Còn với mục tiêu để khoẻ mạnh thì nó còn khá mơ hồ, và nhiều người nghĩ mình đã “khoẻ” rồi, cần tập gì nữa.
Vì thế trước khi tập hãy tự nói với bản thân rằng tôi quyết tâm theo đuổi Dịch Cân Kinh vì nó giúp tôi….. (điều mục tiêu của bạn vào dấu ba chấm )
Niềm tin
Như mình đã đề cập, mình đã từng bỏ tập vì thiếu niềm tin, vì nghĩ một bài tập đơn giản sao có thể giải quyết được nhiều vấn đề thế. Với sự giải thích tại sao cụ thể bên trên, mong là bạn sẽ hiểu rõ và không đánh mất niềm tin như mình từng đánh mất nhé.
Sự tập trung/tĩnh tâm
Tập Dịch Cân Kinh mà không tập trung, dù có tập 5 phút cũng thấy nó dài như nửa tiếng. Với những ai ưa hoạt động, thích làm nhiều việc cùng một lúc, bắt họ phải đứng yên trong một khoảng thời gian thật quá khó.
Tuy nhiên bạn có thể suy nghĩ rằng đây là thời gian hiếm hoi trong ngày bạn được thiền, được tĩnh tâm, buông bỏ mọi buồn phiền, mệt nhọc, thời gian ngay lúc này là của riêng bạn, lúc bạn có thể nuôi dưỡng cơ thể và tâm hồn mình. Bạn chỉ cần nương theo hơi thở và đếm, mình tin bạn sẽ làm được.
Nếu bạn sống chung với nhiều người, bạn có thể nhờ họ giúp đỡ bằng cách nói nhỏ tiếng, hoặc tránh gây ra tiếng ồn trong lúc bạn tập.
b. Cảm nhận lần đầu tiên vẫy 1800 cái
Vẫy đến khoảng 800 cái là vai bắt đầu hơi mỏi, mình vẫy vòng ngắn lại để giữ sức chiến đấu. Bàn chân bên dưới đã hơi run run, nhưng vẫn cố gắng nhíu hậu môn. Đếm thì lúc nhớ lúc quên. Nhưng đến khi vẫy xong thì cảm thấy thật hãnh diện mặc dù lúc đó chân quá mỏi vì gồng nhiều.
200
#Lời kết
Đừng vội nản lòng nếu bạn chưa đạt được kết quả như mong đợi, có thể bạn chưa làm đúng ở khâu nào đó, hãy xem lại cách tập hoặc tăng thêm số lần vẫy. Chúc các bạn thành công!
Tham khảo thông tin: tài liệu Dịch Cân Kinh, video Đạt Ma Dịch Cân Kinh Cải Cách (nguồn youtube), dokinhlac.com.vn, sách “Không có bệnh gì là không chữa được”, sách “Spiritual Science” nguồng Google Book
Tag : ,

Rượi Tỏi

RƯỢU TỎI
“Thần dược” nghìn năm tuổi chữa bách bệnh nhà nào cũng phải có để phòng thân
Trong tỏi có thành phần iốt và tinh dầu, song thành phần chủ yếu là Allicin có công dụng kháng khuẩn, kháng virus và kháng ký sinh trùng. Tỏi ngâm rượu trở thành 1 vị thuốc rất tốt.
1. Lịch sử sử dụng tỏi làm thuốc:
Tỏi từ xa xưa đã được coi là một vị thuốc từ rất lâu đời. Ngay từ thời cổ đại, đã có những bài thuốc được bào chế từ tỏi. Trong ngôi mộ cổ xưa ở Ai Cập, người ta đã tìm thấy dấu vết của những đơn thuốc làm từ tỏi.
Ngay đến thời hiện đại, người Ai Cập vẫn giữ thói quen sử dụng tỏi làm thuốc.
Theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vào những năm 70 của thế kỷ 20, những người của tổ chức này nhận ra rằng Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt nhưng sức khỏe của người dân lại rất tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ cao.
Qua nghiên cứu, các chuyên gia của WHO đã biết được rằng trong nhà của người Ai Cập luôn có những chai rượu tỏi để cả gia đình sử dụng. Thói quen này đã trở thành một tập quán kéo dài trong nhiều thế kỷ.
Không chỉ ở Ai Cập, khắp nơi trên thế giới đều coi tỏi như là một vị thuốc quý. Tại Nga thế kỷ 19, tỏi thậm chí còn được nhấn mạnh với vai trò thảo dược hơn là vai trò gia vị phục vụ bữa ăn.
Y học phương Đông cổ truyền cũng rất coi trọng tỏi. Ngay từ năm 2600 trước Công Nguyên người Trung Quốc đã sử dụng tỏi để làm thuốc. Cho đến tận bây giờ, trong nhiều đơn thuốc chữa bệnh của người Trung Quốc và Việt Nam vẫn có sử dụng tỏi.
2. Dược tính, công dụng:
Tỏi tên khoa học Allium sativum L. thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).
Theo GS Đỗ Tất Lợi, trong Đông y, tỏi được coi có vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chữa băng đới, trùng tích, huyết lỵ. Tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đờm, đầy chướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả lỵ…
Theo phân tích của y học hiện đại, trong củ tỏi có chứa 0,10 – 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S).
Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) – chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin.
Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng… đặc biệt là selen.
Đặc biệt, khi được ngâm rượu, rượu tỏi trở thành 1 vị thuốc dễ sử dụng và có rất nhiều công dụng.
Theo dược sĩ Võ Hùng Mạnh, Trưởng Khoa Dược Bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bình Định, trong tỏi có thành phần iốt và tinh dầu, song thành phần chủ yếu là Allicin có công dụng kháng khuẩn, kháng virus và kháng ký sinh trùng.
Theo Đông y, tỏi ngâm rượu có thể tăng cường sức đề kháng cơ thể, chữa được nhiều bệnh.
Tổ chức Y tế thế giới đã nghiên cứu và công bố những tác dụng của rượu tỏi trong điều trị các loại bệnh như:
– Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp…).
– Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản…).
– Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).
– Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày – tá tràng).
Năm 1983, các nhà y học Nhật Bản bổ ung thêm 2 nhóm bệnh và rượu tỏi có thể điều trị đó là bệnh trĩ và bệnh đái tháo đường. Theo nhóm nghiên cứu này, rượu tỏi là một loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.
3. Cách bào chế rượu tỏi để chữa bệnh:
Theo hướng dẫn của WHO, rượu tỏi cần được ngâm và sử dụng đúng liều lượng vì loại thuốc này được sử dụng lâu dài, nếu dùng quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe.
40g tỏi khô bóc vỏ, thái nhỏ cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 – 45 độ, thỉnh thoảng lắc chai rượu cho đến khi rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng. Đến ngày thứ 10 thì dùng được.
Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) và trước lúc ăn sáng và trước khi đi ngủ. Uống khoảng 20 ngày thì hết nên cứ 10 ngày lại ngâm tiếp để có rượu dùng liên tục.
Với lượng rượu nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không được rượu vẫn dùng được.
Tuy nhiên, theo dược sĩ Võ Hùng Mạnh, Trưởng Khoa Dược Bệnh viện Y học dân tộc cổ truyền Bình Định, tỏi là một vị thuốc có tính nóng nên cần phải lưu ý khi dùng.
Một số trường hợp dùng rượu tỏi chữa cao huyết áp sau khi giảm một thời gian huyết áp đã cao trở lại. Do đó, dùng rượu tỏi lâu dài cần phải linh động gia giảm tùy theo cơ địa hàn nhiệt và điều kiện của mỗi người.
Sau khoảng 2 hay 3 tuần, người bệnh phải giảm dần liều dùng và lưu ý dùng liều thấp hơn đủ để duy trì hiệu quả điều trị.
Ngoài ra, dùng rượu tỏi điều trị cao huyết áp và phòng ngừa bệnh tim mạch cần phối hợp với chế độ ăn nhiều chất xơ, ít chất béo bão hòa trong các loại thịt động vật và tăng cường vận động.
Tỏi cũng có thể gây dị ứng làm ngứa ngáy, nổi mẩn ở một số người. Người chuẩn bị phẫu thuật không nên dùng tỏi, vì tỏi có khả năng làm thay đổi ảnh hưởng của các thuốc chống đông máu được dùng trong giải phẫu.

- Copyright © Nhà Thuốc Nam Gia Truyền Kim Anh - Skyblue - Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -